Liêu Thái
Anh đã sống ở một phương trời xa lắc xa lơ quê nhà, những câu thơ anh bắt gặp cũng mang một màu da khác. Nhưng dường như đâu đó nơi khuất lấp tâm hồn, những đồng vọng của hôm qua vẫn còn đọng lại trên đỉnh chữ, âm ỉ chảy thành lời trong cuộc dấn tồn sinh…
Trong những người cầm bút, sáng tác thơ của Điện Bàn và Quảng Nam,có thể nói rằng làm cho thơ hay thì không phải ít, nhưng làm cho mới thơ thì quả thực đếm trên đầu ngón tay. Đất Quảng Nam vốn nằm trên bản đồ những miền đất yêu thơ, “làm cách mạng thơ”… Nhưng đó là chuyện của một số quá ít ỏi những con người có ý thức tìm tòi cái mới. Dường như phần còn lại là những nghệ sĩ thị trấn, tỉnh lẻ khư khư ôm cái cũ, tiếc nuối cái mà lẽ ra nó đã được yên vị trong viện bảo tàng… Đào cái cũ, hòng làm mới lại nó chẳng khác nào việc chăm sóc một xác chết với hy vọng nó tươi rói và tiếp tục nói chuyện (hoặc chí ít thì nó cũng “thị phạm” được những gì nó từng nói trong quá khứ!) là một chuyện hi hữu và vô bổ. Nhưng người ta đã làm và làm không ít! Chưa bao giờ khái niệm Truyền thống lại đủ vững mạnh và sức sống như tình trạng văn nghệ tại cái tỉnh nhỏ bé – khúc ruột miền Trung như bây giờ. Có lẽ do vậy mà bất kỳ một người cầm bút nào có ý thức cách tân đều để lại một ấn tượng nào đó trong bạn đọc và thi hữu. Nguyễn Hàn Chung cũng nằm trong số ít ỏi này. Dường như ý thức cách tân vốn đã có từ rất sớm, manh nha trong Tìm tôi trong bóng và hiện rõ hơn trong Nói hộ phù du. Tuy không triệt để, nhưng chí ít anh cũng có một thái độ khước từ những giá trị sáo mòn và tìm một lối đi mới. Một lối đi có nhiều gai góc, cạm bẫy trong cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về hiện hữu.
Tôi tin loài phù du bị hàm oan
bởi kiếp tồn sinh quá ngắn
Nếu không hiến đời mình bằng
đường bay ánh sáng
Sao kịp thành thiêu thân?
Cuộc chạy đua nào không vòng quanh
Nhưng chỉ cánh phù du biết
làm sáng lên ngọn lửa
mới mong chiết ra chất tinh ròng.
(Nói hộ phù du – NHPD)
Nếu không hiến đời mình bằng đường bay ánh sáng/ sao kịp thiêu thân? Hỏi nhưng mà cũng là trả lời. Trả lời bằng chính sự bất lực, bất khả giải của một hiện tượng không phải là của con người nhưng lại có sức biểu cảm, chở thân phận con người trên “đường bay” của nó. Phải chăng hiến (dù trên phương diện nào) là một bất khả kháng trong cõi tồn sinh, là một khả thể trên lộ trình bất định của sinh – thành – bại – diệt? Và hành vi hiến cũng là trạng thái tìm về bản thể hư vô mang nặng bản năng, định mệnh hơn là lí trí, dự tính?! Dường như Nói hộ phù du nhưng cũng là nói hộ ai đó đã, đang đi qua mặt dất này, nói hộ ai đó cũng là đang nói hộ mình, nói hộ mình cũng là đang nói hộ cho im lặng, nói hộ cho im lặng cũng là đang nói hộ cho cát bụi vô thường! Ở đó, người nghệ sĩ bắt gặp cái hữu hạn giữa cái hư vô và cái không cùng giữa cái nhỏ bé mong manh, ý thức cộng sinh, dun rủi con người tiếp tục đi tìm để tái sinh, sáng tạo ra mình thêm lần nữa trong ý nghĩa phù du…
Em múa những đường mây của trời
trong đất nung
qua gió mưa từ bấy
những chùm rêu chưa kịp tỏ tình
em múa đến bao giờ vậy
thần SiVa lặng thinh…
(trích Với người vũ nữ Chăm trên tháp Mỹ Sơn – NHPD)
Dường như đó là lời tự luận, tự vấn, tự trấn… những ý hướng thường thấy trong thơ lãng mạn. Tuy nhiên, sự phản tỉnh đã được thổi vào đó hơi hướm của thời đại, sinh khí của hiện đại bởi âm hưởng lãng mạn có dính những hạt li ti ngôn ngữ siêu thực thông qua kĩ thuật ngắt dòng, định vị từ và sử dụng nhiều hình ảnh mới (tuy rằng chất liệu và chủ đề hoàn toàn không có gì mới mẽ) đậm tính phồn thực, hiện thực huyền ảo của thi ca trong đất nung, qua gió mưa, những chùm rêu chưa kịp tỏ tình với thế giới quanh nó, với cơn khát thèm được sống đang cháy mãnh liệt bên trong nó… Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ – một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…
Nhận tặng vật của đêm
Biết không còn yên ổn
Món quà rẻ rúng khao khát kia!
…
gã tình quất ngựa truy phong
đứa bé đói bấu ngực cha tìm mụn vú
đêm có tội tình chi…
(trích Biến tấu đêm – NHPD)
Ý thức tha nhân, ý thức về nỗi đau nhân tình thế thái, ý thức về những hệ lụy của đời sống luôn là niềm day dứt khôn nguôi trong thơ anh, dường như ở đâu người đọc cũng bắt gặp những dòng thơ mang mang nỗi buồn thế sự, âm âm một mối cảm hoài về sự yếu đuối, bất lực của sự sống trước qui luật khắc nghiệt thời gian, trước những tàn phai và phụ rẫy, trước những hy vọng và bi thảm khôn nguôi… Những dòng ý niệm bên trong được thác vào một cấu trúc ngôn từ mở rộng mang tính đa chiều được định dạng bởi kĩ thuật ngắt dòng tự do, đột ngột, tạo độ trường cấu tứ và ý niệm, mở ra không gian đa chiều kích của thơ.
…
Người đàn bà hết duyên
vắt lòng đẻ ra những đứa con bụ bẫm
rồi lặng lẽ gục giữa tro than
níu những giọt mưa kì ảo của thế gian
nước mắt không còn đủ ấm
những lời ca vẫn bay thấu địa đàng.
Những chuyến tàu cắm vào thời gian
không ga nào đỗ lại
chồi non ra hoa rồi kết trái
…
nghiến lên đường ray
vĩnh hằng khúc tráng ca.
(trích Dưới mưa – NHPD)
Dường như khi đọc những bài thơ trong Nói hộ phù du, tôi có cảm giác vẫn còn thấp thoáng những hình ảnh, ý tứ, không gian tâm lý của Tìm tôi trong bóng. Và điều này ít nhiều tạo cảm giác khó chịu về tính liên văn bản hơi “sống” của những tác phẩm thơ anh. Tuy nhiên, đây cũng là “căn bệnh” không thể tránh khỏi của bất kì một người nghệ sĩ nào trên con đường sáng tạo. Vấn đề nằm ở chỗ mức độ và dung lượng phản chiếu của cái cũ (do chính anh tạo ra) lên cái mới đậm hay nhạt, khả dĩ chấp nhận được hay không và tạo ra hiệu ứng nào cho độc giả. Với Nói hộ phù du, vẫn còn âm vang đâu đó cái âm hưởng của Lãng mạn – Nhân văn, vẫn còn khuất lấp nơi ngóc ngách của “căn nhà mới” một cái bóng của ca dao, dân ca, vè bởi nỗ lực làm mới lục bát bằng cách tận dụng tối đa vần lưng, tạo nhịp theo một qui thức hoàn toàn mới: 2 – 2 – 3 – 1; 4 – 2 – 3 – 1; 5 – 3 – 1; 1 – 1 – 5 – 1…
Đó cũng là cách chơi khá mới mẽ của anh trong lục bát – một thể thơ cũ và dễ dẫn đến sáo mòn cho người sử dụng, khai thác, đó cũng là cái bẫy.
…
Nếu như cái vẻ nhu mì
Rớt về ta đạn bom thì…hiểu không?
Muốn cho biển lặng trời trong
Thì thôi, gửi gió bế bồng, thế thôi!
Phải chăng có những kiếp người
Suốt đời lấy cái xa xôi làm gần.
(trích Tự thức – NHPD)
…
Chưa bao giờ tới Pleiku
Mà sao nhớ quắt quay như nhớ nhà
Nhớ làn môi bỏ bùa ta
Nhớ con mắt hạt dẻ già đắm sông
…
(trích Nhớ Pleiku – NHPD)
Với một dung lượng mỏng, chi phối không đáng kể trong toàn tập, nhưng lối viết thả lơi cảm xúc chảy theo dòng tự nhiên, không gắn gượng áp đặt một cấu tứ nhất định nào lên tác phẩm – viết automatic – giúp cho tập thơ có những khoảng rơi, những khúc phiêu dẫn dụ cảm giác vào một cảm quan mới lạ, thuần tính và chứa sức nặng suy tư… trong không gian mở của thơ văn xuôi, thơ hoạt tính…
Giọt trời xanh không ngoái lại cuối sông, cửa Đợi đang chờ. Đại ngàn lốm đốm lá vàng tơ theo con nước dập dềnh sóng vỗ. gặp Vu Gia sông chia đôi nhánh ghé Điện Bàn tắm táp vườn dâu. Tiếng thoi đưa lách cách đuổi nhau. Sự sống bừng bừng tở mở…
(trích Thu Bồn – NHPD)
Những chùm rêu bầu bạn áo xiêm em, cuộc hôn phối thời gian và cổ tháp. Điệu múa ấy làm hồi sinh phế tích, trong vô thanh phản phất nét ca Chàm. Cỏ bàng hoàng từ mấy trăm năm, em vẫn múa sá chi màu dâu bể. Đã tro bụi những hoàng triều chuyên chế, mọi trò chơi phù phiếm bậc quân vương. Người về đây để được tái sinh em, sự già cỗi hóa thanh xuân quyến rũ. Những gót nhảy tay xòe hông múa, không dễ tìm đâu trên thế gian này. Đừng hao mòn vì một thoáng mưa mây, Chiêm nữ ạ! Em vĩnh hằng tĩnh tại. Cứ vũ lộng hồn em đi, cô gái, thời gian xanh quì rạp trước em thôi.
Đừng bắt những chùm rêu phải nhận chịu đổi dời, xin van vỉ kẻ nguôi lòng cổ tích. Tôi muốn hóa thành rêu để ôm em thật chặt, mốc meo nhau ngôn ngữ không lời. trong hoang tàn diễm lệ…
(trích Mỹ Sơn – NHPD)
Dù đứng ở góc độ nào, triển hạn trên phương diện nào nhằm tạo ra những mới lạ trong thi pháp, cấu trúc, ngôn ngữ thơ, vẫn bàng bạc đâu đó một dòng hoài niệm lẩn khuất dưới đáy câu chữ, bên trong những vỉa từ của Nói hộ phù du. Có lẽ sự bắt gặp nhiều nhất trong thơ Nguyễn Hàn Chung không nằm trong hình thức mới lạ và cũng không khu biệt trong những nỗ lực thay đổi hệ qui chiếu của chủ đề mà lại hàm chứa dáng dấp, chân dung của một con người luôn tha thiết sống, tha thiết yêu, tha thiết đau và cả tha thiết đón nhận nỗi đau như một người bạn cưu mang trong đời sống vốn mang nhiều hệ lụy và phi lý.
Phía trái căn nhà tôi ở
Có ông lão già quắt queo
Các con chia nhau vạt đất
Chia cho ông vạt nắng chiều
Phía phải căn nhà tôi ở
Có người đàn bà năm con
Mỗi con có riêng một bố
Bơ vơ đến sáu linh hồn
Phía trước căn nhà tôi ở
Lấp ló mươi nàng mắt xanh
Có người đạo cao như núi
Đến đây cũng biến mất hình
Phía sau căn nhà tôi ở
Có lối thông ra bến ngang
Tôi rủ chiều ra sau ngõ
Ngó đăm đắm lũy tre làng
Không thể chia lòng bốn phía
Nên còn nặng gánh đa đoan.
(Cạnh nhà tôi ở – NHPD)
Và viết, sáng tạo giống như là hành vi khẳng quyết sự tồn tại, khẳng quyết những bất an, trăn trở tử sinh được kí thác trên ngôn ngữ để rồi trả nó về với gió bụi không cùng. Khi những lời phù ảo bay lên, cũng là lúc người nghệ sĩ đối diện với bản ngã lao lung trên những bước hành hương dõi tìm diện mục, dõi tìm bóng dáng chân như… Và, trong mỗi sát na đi qua thường hằng sự sống, những câu thơ gắn trên hệ lụy đời người như một thoại đầu bất tận. Những nhận định chỉ mang tính chất võ đoán (nhận định của tôi cũng không nằm ngoài qui luật này) và làm rối mù hiện hữu. Nhưng dẫu sao, người đọc vẫn có quyền suy ngẫm, ôn lại những ấn tượng còn chìm khuất trong sương mù kí hiệu và bản ngã, dấu hiệu và tồn sinh, hiện tượng và vô cùng… như một lời tri âm trên mặt đất hoang vu này!
Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo.