Thơ Quảng Nam 10 năm –(1997-2007 )

                                                                                                           Huỳnh Minh

  Dường như những dự định, hội họp, gửi bản thảo của anh em làm thơ là hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật Quảng Nam và những chuyện “trầm luân” của tập thơ đã qua. Cuối cùng tập thơ “Thơ Quảng Nam mười năm 1997-2007” cũng ra mắt bạn đọc. Cảm nhận đầu tiên đúng như “Lời nói đầu” của tập thơ: “kỷ niệm 10 năm tái lập tỉnh Quảng Nam, Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam trân trọng giới thiệu 38 gương mặt thơ – là hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh”, ”trong mười năm ấy, thơ ca Quảng Nam đã đồng hành với những mất mát, đau thương của chiến tranh, những trăn trở, buồn vui trong cuộc sống mới của quê nhà… Tất cả đều day dứt, lấp lánh, đằm thắm được những người làm thơ ở đất Quảng giãi bày nỗi niềm trong từng tác phẩm của mình. Đây cũng chính là mạch nguồn của truyền thống văn học đất Quảng, được các thế hệ làm thơ hôm nay gìn giữ và phát huy”.

  Nếu xét về mặt thời gian, 10 năm với một tập thơ của một vùng đất “luôn sát cánh bên nhau, chung lòng, chung sức, hối hả và quyết liệt, NĂNG ĐỘNG và SÁNG TẠO xáp vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới giàu mạnh”, thì tập thơ như vậy là mỏng và khiêm tốn. Nhưng khi đọc tập thơ ấy, dẫu sao cũng đáng ghi nhận và trân trọng gửi gắm vào lòng độc giả có thể ở sự mới mẻ, sự chân thật, và qua thử thách thời gian của nhiều tác phẩm.

  Cảm nhận của tôi khi đọc tập thơ là sự chọn lựa thận trọng và quyết đoán của ban tuyển chọn: kỹ, tốt, có cân nhắc. Tập thơ đa giọng điệu, đa thể tài, chuyển tải, trao gửi được tâm trạng, những cảm xúc và phong cách của từng cây bút riêng biệt. Âu đó cũng là ưu điểm không dễ có của những tập thơ in chung nhiều tác giả.

  Ở bài viết ngắn này, tôi không có tham vọng đánh giá toàn bộ các tác giả. Tôi chỉ có một vài nhận xét có thể rất chủ quan về một vài tác phẩm hoặc một vài tác giả có những giọng điệu “đặc trưng” nào đó, những “cốt cách” náo đó. Nếu có sơ suất nào đó, thì cũng là những cảm nhận riêng tư.

  Trương Vũ Thiên An là tác giả của 3 bài thơ: “Cơn giông”, “Mẹ và cơn mưa”, “Ngọc xưa”. Thơ anh là khúc ca thánh thót của loài chim sơn ca, chất thơ truyền thống, ngôn ngữ chỉn chu, giàu hình ảnh: “Là hạt nhưng không là cát bụi – Trang kinh xưa đánh tréo chỗ tôi ngồi – Em với lòng tôi lễ hội – Khách mời trắng cả trùng khơi – Là hạt cát-em bước ra từ ngọc – Đêm ban ơn lót biển em về – Những chiều bể khơi nổi lửa – Dịu dàng tôi khép vỏ trai xưa” (Ngọc xưa). Đôi lúc thơ anh tắc nghẹn giữa điệu ca dao quê nhà bởi tâm hồn mỏng manh run rẩy trước nỗi đau của mẹ, của em, của tình yêu, đất đai và số phận. Thơ anh giàu nhạc điệu và thoang thoảng mùi hoa hồng tinh khiết. Ở nhà thơ Nguyễn Hàn Chung là nỗi ám ảnh về con chữ, về sự cách điệu, hàm ẩn của hình ảnh, về những giấc mộng mị xô bồ, nỗi trầm luân của kiếp nhân sinh. “Cuộc hôn phối bắt đầu – Có vị gừng cay muối mặn – Của vò xé âm ba phụng hiến – Của chiếc lá nửa vàng cố giữ nửa kia xanh – Lao lực cả đời mà vẫn trống không – Nhưng biết em đang đứng lặng – Là thấy đào lên cơn sóng – Nguội ngầm từng trải rất thơ ngây” (Trước xuân). Thơ Phùng Tấn Đông luôn luôn thách đố và ám ảnh người đọc ở phần thi pháp. Cái mới lạ của hình ảnh, ngôn ngữ đan xen với “ý thức triết học” về một “cái tôi lẻ loi” của cây bút sung mãn sức lực nội tại đang dồn nén: “Rồi cũng cố mà xanh lá đang rơi xuống cõi mơ ngày – Cột giấc nhớ vào những lùm dứa dại – Chảy lạnh tê lòng khe cát trắng – Mơn mơn gió nồm lên mắt lên môi – Chiếc thúng chai ném ngửa ra đầu sóng – Đèn thắp lên là bè bạn chân trời” (Những ý nghĩ rời trong một lúc). Ở một thái cực khác, thơ Nguyễn Tấn Sĩ tràn trề xúc cảm. Một ngọn bút hừng hực khí chất của người lính, vì quá độ chăng nên luôn giễu cợt và mang tính triết lý nhân sinh về các số phận, về những hư danh của cuộc đời: “Đêm Thúy Kiều em bày vẽ cuộc vui – Anh bày vẽ cuộc buồn ly rượu đắng – Nếu cầm được linh hồn đi phơi nắng – Anh chẳng còn vui em chắc chẳng còn buồn – Hát đi em Kim trỗi giọng thính phòng – Mã rối rít dăm ba bài nhạc sến – Bác Nguyễn Du chạnh lòng tắt nến – Quờ quạng đôi tay anh bắt gặp tay mình” (Đêm Thúy Kiều). Thơ của tác giả Huỳnh Minh Tâm là nỗi thường trực vui buồn cuộc đời, của cái đẹp long lanh ngấn lệ đứng trước thời gian vô thường khắc nghiệt. Thơ anh ca ngợi những vẻ đẹp vĩnh cửu trong giây phút hiện tiền: “Đôi khi chúng ta quá xa những người thân yêu – Quá xa những đám mây vàng chiều chiều bay về khu vườn mẹ – Quá xa giọng ca đám lá mục tan rữa – Hoa huệ vẫn trong trẻo ngay cả lúc rũ xuống – Mẹ tôi chớm nghĩ về sự chết – Tôi nghĩ về trường tồn bất khả – Tiếng chuông thánh thót bên kia ngọn núi quê nhà” (Hoa huệ và thời gian).

  Những nhà thơ nữ đã đóng góp nên sự thành công của tập thơ cũng khá đông: Lê Thị Kiều Chinh, Lê Thi, Lê Thị Điểm, Đỗ Thị Kết… Thơ chị Mai Thanh Vinh đằm thắm, là tiếng sóng vỗ bờ một năm dài, là khát vọng bền bỉ treo trên sợi tơ trời mỏng mảnh: “Bỏ lại bờ ao-em chìm trong ảo ảnh – Chùng chình con nước phía người đi – Tiếng gà gáy vọng vầng trăng mờ sáng – Quang gánh nhọc nhằn gác lại góc hoàng hôn – Thôi đành vậy, bao giờ em trở lại – Khi ban mai le lói ánh mặt trời – Vẫn hương lúa làng quê thơm lựng gió – Đêm trăng về ngả nón hứng mùa sang” (Bao giờ em trở lại). Thơ Nguyễn Thị Phương Dung là tiếng gió đêm lạnh, buồn, và những giấc mơ bất chợt vỗ về: “Bất chợt biết được câu: Vừng ơi! – Nhưng em mãi ngập ngừng không dám nói – Trước đời anh môi run câu thần chú – Biết mở ra em được những gì? – Thà một mình nhìn bóng chiều đi – Một mình trông mùa xuân qua đầu ngõ – Một mình-vẫn một mình nghèo khó – Hơn mở ra nhận nỗi ưu phiền” (Vừng ơi!).

  Những cây bút sung mãn, viết chăm và có phong cách thể hiện mới mẻ, táo bạo thời gian gần đây phải kể là Nguyễn Đức Dũng và Đỗ Thượng Thế. Bài áo giấy cho sông của Nguyễn Đức Dũng hay, “ngọt xớt”, đầy ngẫu cảm: “Ngày xế khòm lưng khẳm nỗi sào không – mớn cũ nương nhau chống chèo mấp mé – tôi từng dịp trăng về không thấy bạn – sắp mụt măng còng roi quất chẳng buồn đi…! – Tưởng nghênh ngang thiên hạ hải hồ – ngửa mặt phơi cùng chín phương mười nắng – về đây bụm một sắc trời xanh ngợp người quá kể – sóng không hình đứng cạn mà… say!”. Thơ Đỗ Thượng Thế là “khúc lưu vong” của ngôn ngữ, là sự giằng xé của những ký ức và khát vọng mãnh liệt, những khối rubích bức tranh lập thể: “Hồi hộp khói hải hồ đêm – hiện lên bằng đôi cánh bay hộc tốc về miền ký ức – là nơi em thiết gì phải đến – chỉ niềm tiếc nuối con tàu thời gian luôn thám hiểm – những tảng băng đè nghiêng trong lồng ngực trái” (Mãnh lực một câu).

  Trong tập thơ còn có sự góp mặt đầy đủ của những cây bút khá quen, khá tin cậy trong lòng bạn đọc quê nhà, như: Vũ Minh, Vũ Giang, Nguyễn Nho Khiêm, Nguyễn Mậu Hùng Kiệt, Nguyễn Tam Mỹ, Nguyễn Hải Triều, Lê Phước Trịnh, Phạm Tấn Dũng, Phan Chín, Ngô Hà Phương…

  Hy vọng tập thơ sẽ có những cảm ứng tốt đẹp trong lòng bạn đọc và tạo ra những cảm hứng mới cho những cây bút thơ đất Quảng sáng tạo được nhiều tác phẩm sống mãi trong lòng đông đảo công chúng và thời gian.

Có mộ phản hồi tới “Thơ Quảng Nam 10 năm –(1997-2007 )”

  1. thế nhân nói:

    thầy ơi!thầy có thể cho em biết vài câu thơ viét về làng đúc đồng PHƯỚC KIỀU ở ĐIỆN BÀN.em cảm ơn thầy.
    học sinh cũ của thầy tại trường thcs PHAN CHU TRINH


Gửi phản hồi