Huỳnh Minh Tâm – Một cây bút chững chạc và sung sức của Quảng Nam .Anh sử dụng thuần thục chiêu song thức hỗ bác tay phải ra thơ tay trái múa tản mạn , phê bình món bảo bối Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông của Kim Dung thường sử dụng Là Kỹ sư ,thầy giáo dạy môn Vật lý lại say thơ như điếu đổ ,mê bạn văn như mê tình nhân .bây giờ lại đa mang thêm cái nghiệp phê bình ngậm ngùi nầy nữa. Nguyễn Hàn Chung trân trọng giới thiệu với ban đọc ba bài điểm ,bình có phần đặc dị về ba cây bút dất Quảng của anh .
TIÊU ĐÌNH VÀ TẬP TRUYỆN MỘNG DU GIỮA NGÀY
( nhân đọc tập truyện ngắn Mộng du giữa ngày của Nhà Văn Tiêu Đình, NXB Đà Nẵng, 2009)
Tôi không ngờ nhà văn Tiêu Đình lại viết sung lực sung mãn như vậy. Chỉ gần 10 năm anh cho ra mắt độc giả 6 tập sách đầy đặn. Năm 1997 là tập truyện ngắn phiên toà trên cát, năm 1999 là Quế Sơn-văn hoá và thăng trầm, năm 2001 là truyện thiếu nhi Đội bóng nhí xóm mới, năm 2003 là Vùng giao thoa, năm 2006 là Đảo Robot, và cuối năm 2009 này là tập truyện ngắn Mộng du giữa ngày.
Có dịp đọc các tập truyện ngắn của nhà văn Tiêu Đình, xuyên suốt hành trình lao động vất vả và nghiêm túc trên các con chữ, tôi có cảm nhận ngôn ngữ quê hương,các hình ảnh, tập tục tập quán xứ Quảng thấm đẫm trong từng trang viết của anh. Và có lẽ chính cái gốc rễ máu thịt mê ly ấy đã nuôi nấng nâng đỡ tâm hồn nhà văn bay bổng, có sức viết, sức lan toả. Văn chương của Tiêu Đình đậm đặc chất truyền thống về cơ sở văn hoá, kết cấu truyện khá bền vững , nhuần nhị và giản dị.
Các câu chuyện mà nhà văn Tiêu Đình kể với bạn đọc chúng ta là những sự kiện, đề tài mới có, cũ có, đan xen nhau trong nhịp thời gian vật lý và tâm lý của các nhân vật. Nhưng dẫu câu chuyện có xãy ra ở những giai đoạn nào của lịch sử dân tộc nói chung, hoặc là lịch sử một vùng đất nói riêng, thì tự bản thân nó vẫn mang hơi ấm phập phù của cuộc sống hiện thực, hiện đại, vẫn là những dấu tích bao nỗi lo toan trằn trọc của một con người cụ thể, nhân vật cụ thể đứng trước thời buổi kinh tế thị trường nhiều biến động và dường như rập rình sự bất ổn. Các câu truyện tập trung vấn đề sự dao động, mất cân bằng, sự phá vỡ các quan niệm đạo đức đôi khi chưa được sự đồng tình ủng hộ của nhiều tầng lớp xã hội, cả mặt trái lẫn mặt phải, sự xuống cấp nhân phẩm đạo đức của một số “nhân vật có quyền” trong xã hội.
Tập truyện ngắn mới mẻ Mộng du giữa ngày của anh vẫn không nằm ngoài những vấn đề nóng hổi trên, có tính thời sự hiện đại, tính cập nhật internet . 19 câu truyện trong tập là sự bố trí đan xen các câu chuyện về tình yêu, cái đẹp đứng trước những thách thức nghiệt ngã của thời gian và các quan niệm nhân sinh. Mở đầu tập là truyện ngắn Hoa dủ dẻ. Đó là cây chuyện đôi người cô dơn chia sẻ nhau về những kỷ niệm tình yêu ngang trái. Nhân vật chính “tôi” và anh bạn cùng gặp nhau triâm, cùng cung bậc là gĩư trong ký ức những hình ảnh tình yêu đơn độc và buồn. Nhưng dường như cái phần tốt đẹp nhất trong mỗi con người vẫn còn lung linh đâu đó với hình tượng thơm lừng của hoa dủ dẻ,lảng vảng đâu đó giữa mùi hương dủ dẻ lừng lựng cả hoàng hôn,và,còn nhớ, buổi chiều hôm đó bầu trời xanh hơn mọi lần xanh. và hương dủ dẻ tha hồ bay. Tác phẩm là một bài thơ đẹp và buồn. Truyện ngắn Giờ chót mang nỗi nhớ nhung da diết của những người con tha hương trong những ngày tết nhứt. Bạn đọc còn tìm thấy ở đây nhiều lý do của sự nghèo khổ, sự xô bồ của cuộc sống hiện đại đã đè nặng tâm trí của hai cô gái -nhân vật chính câu chuyện. Truyện file ẩn có giọng văn hóm hỉnh , một chút hài về sự ngốn ngang, bao trái khoáy của cuộc sống thời văn minh náo nhiệt. Buồn thật buồn, cô đơn thật cô đơn. Nhưng cái đẹp vẫn tồn tại, hiện diện, lẫn khuất ở đâu đó đẫu rất mong manh và bí nhiệm. Hai câu truyện cuối của tập là những câu truyện hay. Truyện Quà tặng của trời là khúc ru buồn bã của tình yêu với những hệ luỵ, phiền toái, chán chường.Dẫu vậy truyện ca ngợi phụ nữ như một hấp lực, là một phần huyền nhiệm không thể thiếu của cuộc sống, mà đôi khi ai đó đã chối từ thì tác giả xem như là một sai lầm to lớn vậy.. Chất giọng truyện này thoáng, bay bổng, tuy có phần nặng triết lý, giảng giải. Sóng xao bến Rì kể về chuyện một người con gái bao năm biền biệt quê xú, bất chợt những năm tháng mùa thu cuộc đời lại quay về quê hương, về bến rì sóng xao nhắc nhở bao kỷ niệm yêu dấu, tình yêu, tuổi thơ, cái đẹp. Mô típ truyện quen thuộc, nhưng tác phẩm hay ở chỗ tác giả đã dẫn dắt bạn đọc vào thăm một vùng đất rất đẹp, rất văn hoá và nhiều tâm tình. “không thấy loại rì cây lá nhỏ, dưới nắng chỉ bám mấy chiếc rễ vào cát nóng vẫn cứ sống, cứ xanh. Cũng không thấy loại rìđuổi đan nhau dày đặc trên cát nóng, ngọn giống cái đuôi con cá đuối mẫn cán sống cùng cát mà không bao giờ chụi để cho cát vùi lấp…” Phải chăng đó là hình tượng sức sông mãnh liệt của con người ?. Ở truyện này tình yêu chân thật, gần gũi của con gười với đất đai, cỏ cây, kỷ niệm được nuôi nấng, bồi bổ. Văn giàu hình ảnh, nhân văn và cảm động.
Còn truyện tôi chú ý là Mộng du giữa ngày-được lấy tựa đề cho tập-rất hiện thực đau đớn xác xao trong cái hiện thực của cuộc sống đang diễn bày. Cuộc sống, nghề nghiệp, tư tưởng túng quẩn của nhân vật trung tâm câu chuyện không nơi nương tựa trông thật tội nghiệp. Con người có lý tưởng, có lòng tự trọng nhưng thật mơ hồ.Có mơ ước nhưng thật viễn vông. đó là chứng hoang tưởng, căn bệnh street cuả thời đại chúng ta. Cốt truyện không rõ ràng, nhoè nhoẹt.Tình huống truyện không có éo le, gay cấn nhưng một số đoạn đội thoại nội tâm gây ấn tượng cho bạn đọc về một cách viết phóng túng, linh họat so với các truyện khác trong tập.
Trong tập mộng du giữa ngày còn nhiều truyện khá thành công, cách viết hóm, đề tài tương đối mới, mang hơi thở của cuộc ssống hiện đại, như sống chung với vỉut, Lương sư, nâng chuẩn 2, nắng lạnh…Qua các truyện của nhà văn Tiêu Đình, ta dễ dàng bắt gặp vẻ đẹp rất chân thực và cảm động của vùng đất Quảng Nam sau chiến tranh, trong công cuộc xây dựng đất nước. Vẻ đẹp tâm hồn và thân thể của các cô gái xứ Quảng tác giả có đề cập đồng đều, rộng khắp, nhưng chưa đặc biệt chú trọng miêu tả một cách đậm đặc, gây ấn tượng mãnh liệt. Bù lại, tính cách các nhân vật nữ không chua ngoa, dị hợm quá trớn, không ê hề chán chường, mà có gì đó cục mịch, chân chất, giản dị. Dường như ở đây ngoài bút của anh không sa đà mê mẫn mà biết dừng lại cái chỗ xem như hợp lý nhất. Nhịp điệu văn chương nhiều chỗ còn rườm rà, dài dòng, tọc mạch, chưa phù hợp với nhịp sống gấp gáp, lanh lẹ của thời đại công nghiệp và vi tính, chất văn ít có tính biền ngẫu, nhưng văn của anh mạch lạc, chững chạc, hóm và mỉa. Mạch truyện không nhiều tình huống nhưng giàu xúc cảm. Các số phận không được anh đẩy đến tận cùng nỗi đau, những cảnh ngộ cùng cực éo le, không nêu bật lên những nguyên nhân và hệ luỵ dai dẳng của chúng, nhưng truyện giàu chất nhân văn, biết chia sẻ với bao cảnh đời bất hạnh, túng bấn, gửi gắm được tâm sự và thông điệp tốt đẹp đến bạn đọc.
Tuy nhiên điều dễ nhận thấy xuyên suốt các truyện là kịch tính truyện không cao, gút và mở các truyện cũng không lên đến cao trào.Và giá như tác giả kiệm lời luận bàn kiểu “ triết luận” của những ông già triết học, cách kể truyện sinh động trong trẻo hơn, giảm thiểu những cảm xúc dư thừa của các chi tiết truyện, giảm thiểu giọng điệu địa phương tính, mở rộng tính cách các nhân vật thì hy vọng truyện anh sẽ được nhiều bạn đọc yêu mến hơn, nhất là những cây bát “trẻ”. Theo tôi những điều này tác giả “dư sức”, chỉ có điều con tim có chịu chấp nhận đi theo tiếng gọi một loại bút pháp mới mẻ nào đó hay không ?
TIẾNG VỌNG ĐỜI NGƯỜI
(Đọc tập Nghe vọng tiếng đồng, tiểu luận và tạp văn của Lê Trâm, NXB Đà Nẵng 2010)
Đọc tập sách, đôi khi nhận ra không chỉ rõ ràng “diện mạo” của tác giả bấy lâu ta hằng gặp, mà còn phát hiện ra chiều sâu ẩn khuất của tâm hồn bạn văn bấy lâu ta “cứ nghĩ”, rồi sực tỉnh, “ngộ” ra những điều còn lẩn khuất đâu đó, thảng hoặc nỗi cô đơn không biết chia sẻ cùng ai nên chỉ là huyễn mộng.
Vào những ngày đầu năm dương lịch 2010, cũng là những ngày cuối năm âm lịch Kỷ Sửu, bận rộn bao công việc đồng áng, nhưng khi đọc tập sách Nghe vọng tiếng đồng của Lê Trâm dường như tôi đã quên đi nỗi tất bật của cuộc sống. Tập sách gợi cho tôi nhiều suy nghĩ. Nghe vọng tiếng đồng hay, quí và hấp dẫn ở chỗ; một, tác giả đã thẩm thấu, nhận định sâu sắc rất nhiều giá trị văn hóa của nhiều vùng đất, đặc biệt ấn tượng là vùng đất Quảng Nam máu thịt của mình; hai, tác giả đã từ tốn và nhân văn mổ xẻ công việc bếp núc nghiệp văn của mình và một số đồng nghiệp, thân hữu rất xác đáng, trung thực trong khát vọng bền bỉ đi đến cuối con đương gai góc, mê hoặc.
Nghe vọng tiếng đồng không chỉ là tiếng ngân vọng mãi mãi đời người của tiếng chuông đồng túp tu u u ù ù ú u u, nghĩa “ đen thui” như Lê Trâm đã viết trong tạp văn cùng tên trong tập, với chất văn sắc sảo, câu chuyện quái kỳ. Nghe ra tên gọi còn mở ra cho bạn đọc nỗi ám ảnh tiếng vọng đồng quê, làng mạc của được và mất, của cái đẹp và hư ảo, của quá khứ và hiện tiền mà tác giả “ăn nằm” hoặc nghĩ về.
Tập sách gồm 24 bài viết. Dường như Lê Trâm cố tình sắp xếp theo trình tự thời gian để nhắc nhở sự biến dịch vô thường của thời gian. Phần tạp văn là hỗn tạp chuyện “bao đồng” ở xứ tôi (Quảng Nam, Quế Sơn, Tây Giang) lẫn xứ người ( Tây Bắc, Phương Nam, Đất nước triệu voi); chuyện đã qua ( Đi tìm dinh trấn Thanh Chiêm trong…tiểu thuyết ) hoặc chuyện hàng ngày ( Đường về Tây Bắc, Phương Nam không xa ). Tất thảy cũng chỉ là “phông màn” để anh gửi gắm tâm sự, thổ lộ cách nhìn nhận, đánh giá về các vấn đề về bản sắc, các giá trị văn hóa, về cái đẹp, về tình yêu…
Đi tìm dinh trấn Thanh Chiêm…trong tiểu thuyết không chỉ là bản tư liệu dầy ắp về làng mạc, cách bố trí tường thành Thanh Chiêm ngày xưa, đã “bị vùi trong lớp bụi thời gian”, hoặc phê phán cuộc chiến tranh tàn bạo, mà anh còn muốn gợi xa hơn văn bản một sự sống nẩy mầm, cựa quậy, hoặc là đánh thức một nét đẹp văn chương trong bề bộn hỗn loạn của triều đại phong kiến. Nghe vọng tiếng đồng, bằng cảm hứng tài hoa và mẫn tiệp, Lê Trâm không chỉ giới thiệu một cách chính xác, “ đồng bóng” và sắc sảo về một ngành nghề truyền thống là làm chiêng đồng dưới cây bút của nhà văn, nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân, mà Lê Trâm đã “biết “ thêm thắt để câu chuyện thêm kì bí, hân hoan. Anh viết: “Có lẽ phải tự đọc lấy thôi. Để cảm tiếng đồng-văn và từ đó cảm được tiếng đồng-tiếng. Để còn nghe ngân vọng mãi. Sẽ thấy, sẽ nghe như lạc vào lễ hội của thật nhiều vùng với bao bản sắc khác nhau. Sẽ như lạc vào mùa xuân rộn rã. Rộn mà trầm, ngân mà lắng, ngân vang mà buồn thảm…như số phận các nhân vật trong Tiếng đồng…Nhưng bộ óc tôi không chịu nhớ. Chỉ nghe vọng mãi, ngân mãi những tiếng đồng ma quái, kỳ lạ. Từ một nơi xa, rất xa. Mà cũng thật gần-ngân mãi”
Đường về Tây Bắc, Phương Nam không xa chỉ là những bài ký, ghi lại hành trình đi thực tế, giao lưu văn học. Nhưng cách viết của Lê Trâm thật tỉ mỉ, tròn đầy, chứng tỏ rất nhiều về “tài’ quan sát của anh, về việc cẩn trọng, lý thú, cả nỗi cực nhọc của nghề cầm bút. “ Ngày thứ bảy 14/8/2006 (Thứ Hai). Dự báo thời tiết khu vực Nam bộ ngày 14/8/2006. Trời nhiều mây, có mưa rải rác nhiều nơi, có nơi mưa to. Nhiệt độ 23-330c…Hoặc : Mốc tọa độ Quốc Gia/ Điểm tọa độ GPS 0001/ 80 37’ vĩ Bắc/ 1040 43’ kinh Đông”
Vat phu huyền bí, Mười ngày trên đất triệu voi thì lại khác. Anh khai thác rất kĩ lưởng, công phu các mảng văn hóa ở đất nước bạn Lào. Dường như ở các bài viết này, bạn đọc có cảm nhận người viết cũng kết tinh những nền văn hóa nhất định nào đó. Cách nhìn, cách so sánh của anh cũng thật gần gũi, thú vị, mang hơi thở văn hóa và giàu bản sắc các dân tộc. Chỉ riêng điều này thôi cũng không dễ dàng gì. Các tư liệu được khai thác cũng thật quí hiếm.
Về các tiểu luận, Lê Trâm đã ca ngợi nhiều tác giả, tác phẩm với tinh thần đầy trách nhiệm, quí mến và có tính thời sự. Cái nhìn của anh nặng chất thơ, mỹ cảm và “học hỏi”. Ở loạt bài này thể hiện sự khiêm tốn, giản dị. Chẳng hạn ở các bài : Nhân đọc Điên cuồng như Vệ Tuệ, Bất tận những cánh đồng, Từ Mùa vàng hoa cúc đến Cái nhìn khắc khoải. Rồi Đọc Phiên tòa trên cát (tập truyện ngắn của Tiêu Đình), Bùi Công Dụng và sự lựa chọn mới, Mười năm văn xuôi Quảng Nam- đôi điều cảm nhận, Văn xuôi trên tạp chí Đất Quảng-sự góp mặt thầm lặng, bằng những cảm nhận ôn hòa lẫn nghiêm khắc, chấp nhận bút pháp cũ lẫn khát vọng kết cấu mới, mộc mạc lẫn tế nhị, Lê Trâm đã có những nhận định, nhận xét tương đối thấu đáo và đầy đủ nhiều mặt thành công cũng như hạn chế của một số anh em văn nghệ Quảng Nam. Một số chuyện “bếp núc” văn chương anh viết cũng thật gợi, ấn tượng (Bạn văn, Hồn của cây khô và đá).
Nghe vọng tiếng đồng có kết cấu truyền thống, mạch lạc, giọng văn sáng sủa, trong trẻo, không lên gân cốt mà nhỏ nhẹ, thâm trầm. Tuy vậy, ít tính biền ngẫu, phóng túng nên một vài bài viết còn nặng bài vở, chưa thật xúc cảm. Gấp tập sách lại với bao ám ảnh về nghề cầm bút, lúc nào cũng ngay ngáy hay, dở, được, mất, những khát vọng lớn lao và suy tư vụn vặt. Và còn nghe tiếng vọng ở đâu đó trong tâm hồn con người hay ở trong sách vở ngân mãi, ngân mãi.
THẢO NGUYÊN
VÀ BÀI THƠ KÝ ỨC NỤ HÔN
Nói đến nhà thơ Thảo nguyên là nói đến cõi lòng hoang sơ, “bừa” bộn. Nỗi niềm của Thảo Nguyên là nỗi niềm giao thoa của ký ức và giấc mơ, của “dại khờ trinh trắng” và “tinh anh xanh biếc”. Nghĩa là, khi đọc thơ của Thảo Nguyên, ta dễ bắt gặp giọt nắng hanh của buổi đầu xuân chộn rộn tâm hồn. Nghĩa là, ta dễ dàng xây dựng mộng tưởng và say mê tình yêu. Trong tập thơ đầu tay Miền lá trở vừa ra mắt độc giả, ta thử nghe anh tâm sự : “Thưa ! thơ vốn cõi không riêng thế hệ nào miễn có “tấm thẻ hộ chiếu tâm hồn”. Vói tôi đã nhập dời mình qua nhiều thập kỷ. Kính thỉnh chư vị dưới đất trên trời !”. Những lời tự bạch thật phóng khoáng dư dật, chí lí chi li. Còn nhà thơ cùng quê anh Nguyễn Hàn Chung viết giới thiệu anh như sau: “Một Thảo Nguyên bưt phá, vỡ vạc. Thật là lạ, ở cái tuổi “lục thập nhĩ thuận” với những cú rê, kích chuột, ngón ngón mặt phím, rồi khẳng khái en-tơ khá thuần thục với những câu thơ lục bát biến tấu, kỹ thuật và tươi mới…”.
Thảo Nguyên tên thật là Lê sỹ, sinh năm 1950, quê quán Phước Kiều, Điện Bàn, Quảng Nam, là Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam. Tính tuổi thì anh đến “cõi” thơ có phần muộn màng. Thuở ban đầu, thơ đến với anh như một qui luật tất yếu (hoặc có tên là số phận?). Anh chịu nhiều ảnh hưởng của nền thơ ca học vấn cũ, thể đường luật. Một thời gian khá lâu tri ngộ tri âm với những cây bút trẻ Điện Bàn, miệt mài đọc, tìm tòi, giao lưu với nhiều anh em văn nghệ ở Hội An, Tam kỳ, Đà Nẵng…cánh đồng chữ nghĩa thơ anh chợt rộng mở bao la. Anh viết chậm và kỹ, và đã kịp theo nhịp điệu thơ của thời đại. “Bối rối làn hương bí ẩn/ tình em giăng mắc sao trời/ trái đất lệch đường bay/ chật chội nỗi đau/dày phấn sáp/ tượng đá khản hơi người chẳng đáp/ lời chim một thuở ngậm ngùi” (Giao thừa cùng thiên niên kỷ) Đó là một cảm thức đầy đặn về sự đổi mới, dấn bước trước thế chuyển động tăng tốc của đời sống và thời gian. Anh có bài lục bát khá hay, gieo vần choải và lạ : “ Phố thì phố của ngày xưa/ em thì em của ngày vừa mới lên/ một ta trong cõi bồng bềnh/ một rêu phong một nỗi niềm nguyên sơ/dôị từ em cõi không bờ/ đam mê mấy nẻo ngẩn ngơ bao chiều/ sông Hoài trăng rờ rỡ yêu/ hoa đăng mấy dạo xua đìu hiu bay/ Hội An rạo rực nắng đầy/ Hội An như một mưa cây đầu mùa/ trắng trời áo trắng thu đưa/ em chưa tan học ta chưa chịu về” (Hội An và em). Bài thơ đáng yêu ở chỗ, từ ngữ anh dùng không mới (bồng bềnh, rêu phong, ngẩn ngơ, rờ rỡ…), nhưng anh biết sắp đặt chúng đúng chỗ, đúng câu, xử lý hình ảnh mới, đẹp, gây ấn tượng (rạo rực nắng đầy, mưa cây đầu mùa…)
Riêng ở bài thơ ký ức nụ hôn mà tôi chọn viết giới thiệu ở đây có thể chưa phải là bài thơ đặc sắc trong tập, tuy nhiên tôi thích ở sự mới mẻ các hình ảnh mà bài thơ dẫn dụ, về “liều lượng” tình yêu bài thơ “áp đặt” đầy, bất ngờ :
Chiều nâng trời dĩ vãng
Em xa xăm hiện về
khổ thơ có tính ước lệ, tính nhạc, dù lời còn cũ
Biển một thời bồng bềnh
Trăng một thời thênh thênh
Phượng một thời hương sắc
mộng một thời cháy đêm
gợi đến một ký ức sáng tươi. Những câu thơ có “hương sắc”, giai điệu mượt mà, mở rộng một ký ức đẻ tưởng tượng mông lung. Những kỷ niệm bất chợt hiện về đâu đó. Ở đấy có bao chân trời khát vọng : Biển, trăng, hoa, mộng…tất thảy dường như dồn chật lại trong thơ. nói như nhà thơ Nguyễn Chiến : “Anh là con thi mã/ kéo niềm mơ ngang trời/ chớp chao đời cánh mỏng/ thả thơ vào mênh mông/ anh là con ngựa bạch/ trắng từ đầu đến chân” (Ngựa-Nguyễn Chiến). Còn nói như nhà thơ Phùng Tấn Đông là : “ Trong túi của người những chiếc vé mùa thu không còn hiệu lực tiếng còi tàu vừa rúc một chia xa/ biết làm thế nào đây hơi thở người vẫn chộn rộn như lần hẹn đầu tiên bước chân dù chậm hay nhanh người vẫn không đúng lúc “ (nơi phải đến-Phùng Tấn Đông).
Nụ hôn liều trao em
ba mươi năm khát mãi
Đó là hai câu thơ “đinh” của bài, thật giản đị nhưng rất ấn tượng. Gợi một cái gì đó thăm thẳm hồn người, ray rứt đoạn trường của thứ tình trai tuổi mới lớn nhưng mải miết vô tận đời người. Cái hay kì lạ của nó ở chỗ chẳng mông lung ẩn dụ gì, rõ ràng nhật nguyệt. Cũng chẳng “xảo ngữ” mặt ủ mày chau, kiểu là : “Nổi trời con mắt điêu linh/ đem men cả gió ủ tình xiêu cây/ đang cơn nước ngược sông đầy/ trăm năm có dựng một ngày tràn ly” (Thơ tình ghi dọc Quảng Nam- Nguyễn Đức Dũng). Hoặc là : “Cội vàng hoa quên tắt mình trong tối/ nên em khát mà mưa chẳng xuống/ phúc âm từ lời nguyện cũ bay lên” (Sinh nhật anh- Phương Dung). Mọi nỗi khát (khát thơ, khát tình, khát sống, khát danh…) của những nhà thơ đều ở những cung bậc khác nhau, cách thể hiện cũng khác nhau. Âu đó cũng là lẽ thường tình. Tựu trung cũng chỉ tạo nên những câu thơ hay, cố gắng “để đời”.
Với tôi, bài thơ dừng lại ở đây là vừa . Còn kết thúc như : “Mùi tóc em bay xa/ để tình anh mất hút” cũng chỉ là niềm nuối tiếc nhớ nhung kéo dài âu không hay lắm. Đôi khi có vẻ “sáo” và “non” (thiết nghĩ vậy, chẳng biết tác giả có trách cứ gì không ?). Đoạn tuyệt (một cái gì đó) cũng là tuyệt bút vậy.
Lan man đọc trong tập miền lá trở còn nhiều câu nhiều bài đọc “được”, “chưa phải nói là độc đáo, nhưng thật đáng mừng và trân trọng” (Nguyễn Hàn Chung). Chẳng hạn : “lan man dưới mấy tầng rêu/ vô ngôn tượng đá hắt hiu gió ngàn” (cảm xúc Mỹ Sơn), “ngất ngưỡng tiếng khà rung vách núi/ con đường hun hút lưng mây/ bát ngát đồi nương biến ảo” (lãng đãng Đak Ruồng), “mùa xuân điểm xuyết phía hương em/ngón ngón non tơ xanh lá” (lắng xuân).
Thơ là hơi thở của mỗi người. Thơ cũng là đời sống. Mà đời sống luôn luôn biến chuyển, mới mẻ và sinh động. Đã mới thì cần mới nữa. Đã hay thì cần hay nữa. Âu đó là những yêu cầu miên viễn của độc giả. Hy vọng gặp lại Thảo Nguyên ở những chân trời xa hơn.