Men Da của Huỳnh Lê Nhật Tấn

Men Da
Tác phẩm thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn
Da Vàng xuất bản lần thứ nhất 49 bản tại Đà Nẵng,
photocopy khổ 13 x 20 cm. In xong lưu nộp cho gia
đình & gửi tặng thân hữu 05/2009.
nhà xuất bản Da Vàng
liên lạc: huynhlenhattan@gmail.com
Chịu trách nhiệm xuất bản: Huỳnh Lê Nhật Tấn
Trình bày: Bùi Bố
Bìa: Tom Ager
© 2009, Huỳnh Lê Nhật Tấn

Điệu rơi

Những chiếc mặt hóa trang lộng lẫy

Rụng vờn

Mắt mơ hương hoa

Nghĩa là thân nét tôi đang trôi

Rong rã đến một ngày phải dừng

Thở hấp vào lòng mẹ

Úp mặt vào bào thai

Tôi khóc thuộc phía chân trời mơ mộng

Xanh mùa vội tan

Ô hò tiếng đổ bóng khuôn mặt già nua

In lại bóng thân hình mình

Im-nằm lắng và bỗng chót lao vút về vùng

nắng

ngời

Tung tăng điệu kinh cầu mặt trời sẽ thức

Phiêu du buồn chen vào tường khói ám

Những gương mặt tôi yêu

Nhập hồn vào lá thuyền

Trôi…

Trôi nét mặt quay vòng

Rơi cả tôi dạo vào những khoảng không gian

Yêu đương

Trong sắc thái mắt say vô hình

Tôi yêu những vàng vọt hong khô

Và vạn mặt đang hiện hữu trần đời

Khỏa dáng

Múa khúc nhạc

Đổi mùa

Mọc lên phố cây mưa

Tôi muốn nói vạn vật đều rơi

Mặt trời

M…

Mọc từ bàn tay in vệt đất

Màu nói đã khoáy động ly rượu

Đỏ vờ vẫn trên môi em

Má hông ứng điều gì che dấu

Em?

Khước từ em

Mọc sau mái tóc và bên hông em

Sợi dây điện mạch chữ

Chạm vào nhau hôn mê

Khước từ chút men này

Mọc trong tôi con đường màu xanh lam

Cô tịch hàng cây cổ thấp dáng cơn mê

Tôi đi thẳng theo tia chói lòa

Khước từ chiếc ghế mây

Mọc bên em thiếu nữ tôi nhìn

Say sưa

Riêng thời gian là nỗi lo tiếng vỗ về

Của chân cao mọc từ bể trong

Mọc mọi bề không toan tính

Những nỗi sầu em sâu ta bằng sợi chỉ trắng

Khát vọng bên mặt trời

Em thêu thuần trong lời

Nói rang

Mọc trong vào

Quả nảo có khe hở hang đọng

Đập vỡ khuôn mặt em.

Tôi xin được mọc từ khoảng trống vùng lên

Thôi chữ xin

Khước từ đêm gặp gỡ.

Vọng đèo

Ngôi yên vị nghe tiếng khóc từ phía xa

Gẩy khúc nhạc rừng núi nghiêng cao chót vót

Leo đeo cuống quầy lối đi

Liếm mặt đường dài quanh co.

Tôi leo lên

Thấp xuống

Vận tốc làm tôi tái tê âm hồn của chiếc bóng

Buột lộ trình ngã người không ai trở về

Cua, núp bóng chiếc đen kinh hoàng

Lượn đổ cơn dốc tròn tia chớp của hơi thở cuối

Hấp nhả nỗi buồn

Đèo đeo lời phát cháy phía chân đèo cao

Dò đôi cánh tay ê chề

Trong cơn vang sâu rơi cỏi thiên

Hồn bay vịn hãi hùng ra Hải Vân ngàn hơi thở

ngưng

A…a

Đỉnh núi cao kia?

Những nẻo cao rú lên tiếng còi xe cúi mặt

Định mệnh kết cuộc im

Tôi giác cảm lòng người với bao đôi mắt trắng

phờ phạc

Hát đi tiếng khóc cuối cùng

Biển xanh mặn mà cát trắng vòng hội ngộ

Những âm hôn người dần chảy tan dưới chân

đèo

Tâm hương vỗ lìa bóng khuất

Thời gian vô định bên tiếng vọng đèo cao

Đèo mây phủ bay bão bùng lo sợ

Khẩn cầu cho yên phận đỏ đen

Một con đường xuyên qua vách núi

Vạt về dòng nước trần gian

Còi xe tan

Đêm ánh lung linh sắc màu va chạm

Bay qua tâm tịnh đi qua.

Bài ca lòng thòng

Nguyễn Hàn Chung

Ngày bỏ xứ

anh chôn một dúm tóc

dưới gốc khế sau nhà

có sự chứng kiến của thằng Bi khùng hàng xóm

nghe người chủ mới mô tả

cây khế  đã bị bão làm trốc gốc chết tươi

mặt đất ràng rịt những chùm mơ

(dân quê anh  quen gọi là rau thúi địt)

Ngày ở quê

gác khểnh cẳng chân lên cái nghèo ca hát

thảnh thơi bội phần

bữa nhậu óc chó riết thành ghiền

bỏ đi  thường thức văn minh vệ sinh

ly rượu xoay vòng hơn chục miệng

Ngày hiện tại

chạy bở hơi tai

quáng gà tìm kiếm tiện nghi tối thiểu

khác xa cái thời bắt ốc mò cua

nằm đêm soi mặt vào xưa

nghĩ đến rối mù chân tóc

Tự do là gì ?

làm tôi mọi

trắng bản xứ lạnh lùng vàng đồng hương hà hiếp

mùi đô la gãy gụp lóng xương

mẹ già tựa cửa  ngóng con về giảm nhức đau  nhanh hơn Salonpas

Tự do là gì ?

hình ảnh thơ  ngày càng bậm trợn

câu cú bất phân thượng hạ

lò dò tân… hậu …rủa sả giáo điều thiêng liêng

già quắp cần câu mười năm khô mu  học đòi thỏa cơn ghiền sex..sex…

Ngày trở về

đố kiếm ra đâu được mảnh xương tàn quay đầu

tro lưu vong mịt mờ núi tây biển bắc

tằm sống mà không biết rút ruột  lấy

tơ đâu mà nhả

khói âm hồn bất tán nương quê

một vòng quanh hắt hiu là hết trọi kiếp

tất thảy chung đường mụ mị

có sang hèn chi mô

1/3/2010

THÁNH ĐỊA MỸ SƠN

LÊ THU THÙY


Có được một đêm ngắm trăng ở Mỹ Sơn, du khách sẽ cảm nhận được cái hơi lạnh của lũng sâu, khói núi, ngàn cây. Ngay đến du khách cũng trở nên huyền ảo khi chiêm bái tượng thần Siva, nữ thần Bhavagati cùng tượng các thần linh, những ngọn tháp lộng lẫy, uy nghi nhưng đầy kì bí cứ nhấp nhô, lung linh. Đó cũng là dịp để du khách thưởng thức tiếng kèn saranai do các nghệ nhân dân gian biểu diễn, hòa cùng tiếng kèn là tiếng trống baranưng âm vang lay động từng vách đá, khe núi. Ngọn núi Hòn Đền âm u càng trầm mặc hơn dưới bóng thời gian.

Khu đền tháp Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng kín đáo, giữa những khu rừng
thuộc xã Duy Phú – huyện Duy Xuyên, cách thành phố Hội An 45km về phía Tây, cách thành phố Đà Nẵng 70km về phía Tây Nam, cách Thị trấn Nam Phước (quốc lộ 1A) khoảng 30km về phía tây.

Từ thời xưa, Mỹ Sơn là Thánh địa của vương quốc Champà, đây cũng là nơi đạo Bà La môn được du nhập và truyền bá rộng rãi, là địa điểm hành hương thiêng liêng của hàng chục triều đại và hàng triệu con người. Champà là vương quốc cổ, ngày nay còn sót lại nhiều di tích nằm rải rác dọc miền Trung. Đây là đất mẹ của nhiều vị vua hùng cường trong lịch sử Champà như Khu Liên, Phạm Dật, Chế Mân,… Champà cũng như một số quốc gia ở Đông Nam Á thơi cổ và trung đại đều bị Ấn Độ hóa. Bà La môn là tôn giáo của hòang gia, và tầng lớp quý tộc là những người có trọng trách xây dựng và bảo vệ đền tháp thờ cúng thần linh. Tín ngưỡng chính của vương triều Champà là thờ tự thần – vua và các thần linh bảo hộ vương quốc cũng như vương quyền. Vương quốc Champà kéo dài suốt dải đất miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Trong đó, vùng đất Quảng Nam với tên gọi xưa là Amaravati, được các văn bia cổ nhắc đến như là trung tâm của vương quốc Champà trong một giai đoạn khá dài. Do ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ rất sớm, vương quốc Champà sử dụng thể chế hành chính giống như Ấn độ, nghĩa là trong một vương quốc có nhiều tiểu vương quốc gọi là manđala. Các tu sĩ Bà La Môn từng đi khắp đó đây giảng đạo, cầu nguyện, tham thiền. Họ đã để lại những dấu vết đã tàn phai ở các đền tháp và những tác phẩm điêu khắc, được tìm thấy từ các nơi thờ phụng vua chúa, đền đài, thành quách và nhất là kinh đô của các tiểu vương quốc. Những địa điểm quan trọng nhất liên quan đến tín ngưỡng Champà ấy là Thánh đia Mỹ Sơn (Quảng Nam) và Thánh đô Pô-Nagar (Khánh Hòa). Hai nơi này một là nơi thờ phụng Bhadravarman, vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ  kết hợp với thờ phụng thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần – vua và tổ tiên hoàng tộc và nơi khác thờ Thần – Mẹ chính là nữ thần Bhavagati (Thiên Y-A-Na) người tạo dựng vương quốc Chapà Pô-Nagar Nha Trang.

Theo các thư tịch cổ thì Mỹ Sơn được xây dựng từ cuối thế kỉ thứ IV, dưới triều vua Bhadravarman. Những dòng chữ ghi trên tấm bia sớm nhất ở Mỹ Sơn, cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadravarman. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn.
Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ. Đức vua Pramesvaraman cuối thế XIII là người cuối cùng trùng tu và xây dựng Mỹ Sơn. Ngòai ra hai vị vua: Harivarman (1074) và Jaya Harivarman (1157) cũng có công trùng tu và xây dựng lại thánh địa Mỹ Sơn, các vị vua này đều được thờ cúng tại đây. Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Champà.

Mỗi thời kỳ lịch sử, các công trình kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung hầu hết các tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử… động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người. Thánh địa Mỹ Sơn tiêu biểu cho nền văn minh Champà thời phát triển rực rỡ tồn tại trên hàng chục thế kỉ. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, các công trình kiến trúc còn sót lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách thể hiện từng giai đoạn lịch sử của nền mỹ thuật dân tộc Champà, những kiệt tác đánh dấu một thời huy hoàng của văn hoá Chàmpa.

Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ 20 này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn Đông người Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố. Từ năm 1981 đến 1991, Mỹ Sơn được bảo quản và tu sửa từng phần với sự giúp đỡ về chuyên môn của công ty P.K.Z (Ba Lan).

Đặc biệt ngày nay kỹ thuật kết dính vật liệu không có mạch hồ trong việc xây dựng đền tháp ở Mỹ Sơn vốn là một bí ẩn luôn kích thích sự tìm tòi, nghiên cứu đã bước đầu được khám phá. Các nhà khoa học đã áp dụng kỹ thuật này trong quá trình trùng tu, tôn tạo các khu đền tháp.

Tháng 12 năm 1999 khu đền tháp Mỹ Sơn đã được UNESCO tôn vinh di sản văn hóa thế giới. Cũng từ ngày ấy nó được trả về tên tuổi buổi hòang kim THÁNH ĐỊA MỸ SƠN. Mỗi ngày, Mỹ Sơn đón hàng trăm du khách, hơn 90% trong số ấy là người nước ngòai đến tham quan du lịch, nghiên cứu và khám phá.

Hạc Vàng Khuất Bóng

Tô Thẩm Huy

Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.  Tôi học với Giáo Sư Nguyễn Đức Hiển cách đây đã mấy mươi năm.  Không học dưới mái trường mà học trên sân nhà ông.  Không học ở Sài Gòn mà học ở Houston.  Không học văn chương mà học võ thuật.  Trong hơn hai mươi năm quen ông tôi cũng không biết là ông đã từng dậy Việt văn tại ngôi trường mà mình đã chạy nhẩy suốt bẩy năm trung học.  Cho đến ngày ông mất.

Tôi quen ông qua người anh cả trong gia đình.  Dạo mới sang Mỹ, ông và người anh tôi định cư tại Pine Bluff, một tỉnh nhỏ kế cận thủ đô Little Rock của Arkansas, rồi rủ nhau  dọn về Houston đầu thập niên 80.  Tôi bắt đầu quen ông từ đấy.  Ông dáng người quắc thước, không vạm vỡ nhưng rắn rỏi.  Cái rắn rỏi của một võ sĩ Đại Hàn.  Cằm vuông, vầng trán cao, đôi mắt sáng, nửa như khiêu khích soi mói, nửa như ân cần thăm hỏi.  Ở ông toát ra cái vẻ vừa nhanh nhẹn lại vừa ung dung, cái ung dung từ tốn của một con cọp đang nằm phơi nắng, vừa rêu phong như những nhân vật xa xưa của Vũ Khắc Khoan, của Nguyễn Tuân, lại vừa quen thuộc như người hàng xóm thân tình kế bên.  Những nét trái ngược ấy đã tìm được cách hài hoà chung sống nơi con người ông.  Và nơi tranh vẽ của ông.  Tranh ông đầy những mầu sắc thuỷ mặc, mềm mại của hội hoạ Trung Hoa, pha trộn với những đường nét mạnh mẽ, góc cạnh của hội hoạ Nhật Bản.  Dạo ấy, hai mươi mấy năm trước, tôi nhìn ông như một người tài hoa, đởm lược, đã từng lang bạt kỳ hồ sang Lào, sang Tân Gia Ba, làm việc cho Sứ quán Viêt Nam, thu nhặt những nét đẹp tinh hoa của Đông Á.  Yêu cây kiểng, say mê đồ cổ, tinh thông chữ Hán, giỏi thập bát ban võ nghệ.  Nhưng tôi đã không nhìn thấy ở ông một tâm hồn thi sĩ.  Người ta quả có thể đối diện mà không tương phùng.  Tôi vốn say mê Đường thi từ những ngày còn trẻ.  Ông lại là người yêu mến cổ văn, từng học Văn Khoa ở Hà Nội.  Thế mà trong bao lần gặp gỡ, chẳng bao giờ ông và tôi nói chuyện văn chương với nhau.  Gặp nhau, chúng tôi nói chuyện về cách thức nấu phở, ông nấu phở cho tôi ăn, phở ông ngon lắm, đậm đà mà thanh tao, nói chuyện về nghệ thuật ăn uống, về hội hoạ, về võ thuật, nhưng không một lần đả động đến văn chương.  Thế mới lạ.  Nhưng không phải vì thế mà không có chuyện.

Số là bẵng đi một thời gian khá lâu không liên lạc, thì cách đây vài năm tôi được một người bạn tặng một tập sách do ông biên soạn, tập Vang Bóng Hạc Vàng, viết về bài thơ Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu và những giai thoại, những bản dịch khác nhau, của ông và của nhiều người khác.  Riêng của ông thì đến những mười mấy bản.  Bài thơ này thì không ai đọc Đường thi mà không biết.  Và cũng không biết bao nhiêu người đã say mê dịch nó sang tiếng Việt.  Trong số những người ấy có Vũ Hoàng Chương.  Đầu năm 1970, trên tờ Văn Học ở Sài Gòn ngày trước, nhân dịp giỗ thi sĩ Tản Đà lần thứ 31, Vũ Hoàng Chương đã nhắc đến và lên tiếng ca ngợi bản dịch của hai người (1).  Một của nhà nho Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, một của Tản Đà.  Mỗi người một vẻ.  Bản dịch của Tùng Vân thì ít được phổ biến, dù đã đăng trên Nam Phong tạp chí vào thập niên 20.  Có lẽ vì nó đọc lên nghe trúc trắc, không xuôi tai.  Nhưng, như Vũ Hoàng Chương đã chỉ ra cho chúng ta thấy, bản dịch ấy rất công phu, rất già tay.  Công phu ở chỗ nó đã theo sát nhạc điệu của nguyên tác.  Sát cả ở những chỗ sai niêm thất luật.  Bản dịch của Tản Đà thì trái lại, rất bay bướm nhẹ nhàng.  Nó du dương trầm bổng trong cung điệu lục bát.  Bản dịch ấy ắt phải hay lắm, vì đến nay, 70 năm sau, vẫn còn rất nhiều người biết đến và ưa thích.  Nó đã vượt qua được sự thử thách của thời gian.  Nhưng theo tôi, cái hay ấy nó ’Tản Đà’ quá, nó ngọt ngào, hiền lành quá.  Cái không khí mang mang day dứt, nỗi bơ vơ hiu quạnh của thân phận con người lạc lõng giữa trần gian trong một chiều nắng tắt,  mà thiên đường thì đã mù mịt lối về, cái không khí ấy đã bị dịch giả thuần hoá, trở nên nhu mì mềm mại, nhẹ nhàng trôi chẩy trong giòng ca dao.  Cái hay của Tản Đà là ở chỗ ấy.  Nó dễ đến với người Việt vì lẽ ấy.  Nhưng đó, theo cái thiên kiến lệch lạc của riêng tôi, cũng là chỗ hụt hẫng của ông khi dịch Hoàng Hạc Lâu.

Ít lâu sau biến cố 1975, giới yêu thơ ở hải ngoại bỗng nhận được từ trong nước bản dịch Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương.  Nghe nói là những dòng chữ cuối cùng của một đời tận tuỵ với chữ nghĩa, gọt dũa nhiều năm đến lúc lìa trần mới hoàn tất.  Tôi đã đọc bản dịch của Vũ Hoàng Chương một cách say đắm.  Nó còn hay hơn cả nguyên tác.  Mà nguyên tác thì đã hay tót vời.  Cái mà Thôi Hiệu phải vận dụng hết mười thành công lực, phá vỡ luật thơ thất ngôn, sử dụng 6 thanh trắc liên tiếp mới nói được:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

đến độ hùng tâm dũng khí như Lý Bạch, đọc xong, tay vung quyền, chân tung cước, vẫn phải gác bút chịu thua, cúi đầu ra đi (2), thì Vũ Hoàng Chương vẫn ung dung rút kiếm giữa trời thơ, phóng con mắt nghìn đời dõi theo đôi cánh hạc đã mù khơi bay mất mà thong thả dẫn dắt nó quay về trong cung bậc thất ngôn niêm luật.  Hai câu thực trong bản dịch của Vũ Quân bay bổng giữa trời thơ ảo diệu:

Vàng tung cánh hạc đi đi mất

Trắng một mầu mây vạn vạn đời

Bạn thấy gì không?  Một mầu vàng loé lên giữa trời rồi vụt tắt, một mầu vàng tung lên rồi vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại, nhưng mãi mãi lấp lánh trong tâm tưởng và trên thân phận con người.  Còn lại gì chăng, ngoài một cõi thiên thu vàng ngợp đến bất tận!  Đọc đến câu cuối:  Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi, cả một trời Đường thi bỗng lay động.  Thôi Hiệu giá có đọc được câu ấy, nội chỉ một câu ấy thôi, cũng phải ngả nón cúi đầu khâm phục.  Nó nói được điều Thôi Hiệu muốn nói, bằng một cách khác hẳn, một cách rất tài hoa riêng biệt, như một lời ngậm ngùi năn nỉ với hư không:  Sóng ơi, sầu đã chín, xin người thôi giục.  Sóng gì ? Sóng nước ? Hay những lớp sóng của bể dâu hưng phế ?  Ai muốn thấy sự khác biệt tinh tế giữa hai dòng ngôn ngữ Hán, Việt xin cứ thư thả đọc lại hai câu:  Yên ba giang thượng sử nhân sầu … Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi, ắt sẽ rõ. Hoặc giả muốn biết nội công thượng thừa của Vũ Quân thâm hậu đến đâu, xin nhẩn nha ngoảnh lại, thử bầy một cuộc đổi dời di dịch, đọc lại một lần nữa câu vàng tung cánh hạc đi đi mất, nhưng lần này hoán đổi chữ hạc lên đầu câu, hạc vàng tung cánh đi đi mất. Bạn thấy gì không? Cũng bẩy chữ ấy, nhưng lần này, khi chỉ đem chữ hạc lên đầu câu, thì cả một trời thơ đang lung linh sáng bỗng tối sầm lại.  Tô mì Hải Ký đang bốc hương ngào ngạt bỗng lặng lẽ trở thành tô mì gói.  Mì gói một tô cũng thú vị lắm, nhưng chao ôi, tô mì Hải Ký …  Và tôi đã tự nhủ: không ai sau Vũ Hoàng Chương nên ‘dại dột’ dịch Hoàng Hạc Lâu nữa.  Đến Vũ Hoàng Chương thì Hoàng Hạc Lâu đã dịch xong rồi.  Tôi vẫn nghĩ thế.  Cho nên lúc đọc tập Vang Bóng Hạc Vàng của GS Nguyễn Đức Hiển với mười mấy bản dịch khác nhau của ông, tôi đã thầm có ý ‘chống đối’.  Tôi đã đọc mười tám bản dịch của ông bằng con mắt không ‘hạnh phúc’.  Và tôi đã thầm ‘trách’ ông:  Sao lại đi dịch Hoàng Hạc Lâu!

Sau đó ít lâu tôi được anh tôi báo tin ông đã mất.  Rồi các cựu học sinh Võ Trường Toản liên lạc rủ nhau đi dự đám tang GS Nguyễn Đức Hiển.  Lúc ấy tôi mới biết là ông đã từng dậy Việt văn tại trường trung học của mình ngày xưa.  Hôm đưa đám ông tôi lại có việc phải đi xa.  Lại không được nhìn mặt ông lần cuối.  Sau đó, tôi tìm đọc các tác phẩm khác của ông, tập Cổ Thi Nhàn Dịch và tập Trời Sau Nhật Thực.  Lúc ấy tôi mới khám phá ra rằng không những ở cái thú ăn uống, nấu nướng, mà còn ở thi ca, ông và tôi có nhiều say mê giống nhau.  Nhiều bài trong tập Nhàn Dịch của ông tôi cũng đã dịch.  Tôi đã đọc và dịch Đường thi như một niềm hạnh phúc cô độc.  Một mình.  Một mình với người xưa.  Rồi một hôm nọ, tôi bỗng lại bắt gặp chính mình đang ‘dại dột’ ngồi dịch Hoàng Hạc Lâu, như là một ai khác chứ không phải tôi, đang lịch kịch gõ tới gõ lui hình ảnh một cánh hạc rực vàng trong nắng chiều chực tắt, tung cánh bay mất về phương trời vô hạn.  Ngay lúc ấy, tôi thấy khuôn mặt ông hiện ra từ đằng xa nhìn tôi mỉm cười.  Vẫn đôi mắt ấy, nửa như ân cần thăm hỏi, nửa như dịu dàng khiêu khích:  Sao, có còn thầm trách nữa không ? Tôi lên giường nằm, tắt đèn nhắm mắt.  Khuôn mặt ông thấp thoáng chập chờn trong giấc ngủ.  Những câu chuyện trong tập Vang Bóng Hạc Vàng của ông bay lượn trong giấc mộng.  Đêm hôm đó tôi hiểu hơn bao giờ, rằng người ta đôi khi viết như để trò chuyện với một nỗi ám ảnh, như để đùa dỡn với chính mình, như để chẳng làm gì hết.  Viết để viết ra.  Thế thôi.  Hay hay dở cũng chẳng để làm gì hết.  Cứ chịu chơi hết mình một cuộc rồi thì đâu sẽ ra đấy.  Hay hay dở là ở chỗ chịu chơi hết mình hay không hết.  Mọi điều còn lại đều vô nghĩa.  Giữa những người chung một cuộc chơi có một sự cảm thông kỳ bí không nói ra được bằng lời.  Liền cả tháng sau đó, đêm nào tôi cũng dịch tới dịch lui bài Hoàng Hạc Lâu, như là một cách trò chuyện với ông, với một nỗi ám ảnh.  Dịch đến mấy mươi bản khác nhau mà vẫn cứ loay hoay dịch.  Hoàng hạc Lâu chỉ là một cái cớ.  Hoàng hạc Lâu có thể là bài thơ hay nhất Đường thi nhưng điều ấy không quan trọng.  Dịch hay không dịch, hay dịch mấy mươi bản, không quan trọng.  Điều ly kỳ gay cấn là cái sự vụ dịch.  Nó biến khoảnh khắc trở thành vĩnh cửu.  Và vì thế, với người dịch, ngay trước và trong lúc cầm bút dịch, nó đã là sáng tạo, là làm hồi sinh trong hồn cái mầu xanh ban sơ bất tuyệt.  Những lúc ấy tôi không còn một mình, không còn cô độc.  Cũng người một hội một thuyền đâu xa.

Nhiều người lý luận rằng bản dịch thì không thể nào hay hơn nguyên tác, nó chỉ diễn lại cái ‘‘ ý ’’ đã có sẵn.  Những người ấy thực không hiểu gì về thơ.  Họ làm như thơ là cái gì rõ ràng minh bạch lắm, làm như trong thơ ‘‘ ý ’’ là cái gì quan trọng lắm.  Họ không hiểu được rằng cái điều được nói ra và cái điều nói ra được lại là cái điều không đáng nói.  Cách nói mới là điều làm ngậm ngùi tái tê hồn phách.  Vậy là sao?  Xin thưa ngôn ngữ vốn bất lực, cái điều nói ra được chỉ là cơn cuộc bầy ra để tìm cách nói cái điều không nói ra được.  Nói như vậy cũng không hẳn là nghe được.  Chỉ là nói vậy vậy thôi.  Chứ ngôn ngữ, cả chữ lẫn nghĩa, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, chỉ là cái ngón tay.  Và vầng trăng cổ độ thì mãi mãi chiếu sáng trên thân phận con người.  Trước cái bờ vực thẳm mà ngôn ngữ đã phải cúi đầu hàng phục, phải đứng lại, thì thơ đã chắp cánh, đã nhắc một nhịp cầu để đáo bỉ ngạn, để có thể bước sang cảnh giới bên kia.  Muốn biết cái cảnh giới ấy thế nào thì phải dấn liều một bước mà bước bước qua thì mới có thể chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn. Còn cứ đứng tại chỗ vỗ tay khen ngợi, hay lên tiếng đổ lỗi cho nhịp cầu, thì làm sao thấy được những đoá hồng dại đang run rẩy đón chờ buổi tương phùng của một ngày đoàn viên xum họp.  Làm mới ngón tay, trau chuốt nó, là điều cần thiết.  Nhưng chao ôi, cái cách trỏ . . .

Kể ra ông đã thọ, chỉ kém vài năm thì đầy bát tuần.  Ông ra đi đột ngột, để lại bao thương tiếc cho người thân, và những bức hoạ, những vần thơ mê ảo.  Ông vừa dịch cổ thi, vừa sáng tác, bằng Việt ngữ, và bằng cả Hán ngữ.  Thơ ông vừa mới, lại vừa cổ.  Cổ như tiếng nói của con người.  Mới hơn thơ của những người đang đòi làm mới thơ.  Thơ thì bao giờ chẳng mới, thứ thơ tinh khôi đến từ đáy lòng, làm sao mà nó cũ được.  Sao người ta cứ thích tô son thoa phấn cho thơ, mà không chịu làm mới lòng mình, không chịu đưa mảnh hồn mình ra mà dấn liều tang thương một cuộc.  Thử chép ra đây mấy câu thơ của ông:

…Những vụn vặt ảnh hình

Những đê mê hồi tưởng

Ánh tóc ấy xưa dài như con suối

Dẫn lối Đào Nguyên

Huyễn tượng

Ánh mắt ấy chứa chan thần mật

Sáu nẻo mê đồ

Sắc tướng

Làn môi ấy căng lên cánh buồm phơ phất

Lưu thuỷ hành vân

Ngũ âm

Tuyệt xướng

Chữ nghĩa ông thật là say đắm mê đồ.  Ánh tóc ấy, Ánh mắt ấy…thần mật… sắc tướng.  Làn môi ấy căng lên cánh buồm…tuyệt xướng.  Hay tuyệt sướng ?  Nào ai biết…

Một chữ cũng là thầy, nửa thế võ cũng là thầy.  Lúc ông còn ở hồng trần, tôi đã được cái duyên cùng ông đối diện nhiều lần, nhưng lại chẳng được một lần tương phùng.  Nay ông như cánh hạc đã vụt bay bất phục phản, tôi lại gần gụi, thân thiết với ông hơn bao giờ.  Ngày giỗ nhì cũng sắp đến.  Xin thắp nén hương chắp tay lạy ông mấy lạy.  Một lạy để tạ lỗi đã thầm trách ông.  Một lạy nữa để cảm ơn ông đã dậy tôi đôi điều, dăm thế, lúc đương còn ở quán trọ trần gian, cũng như sau lúc đã bay về cõi trời xa tắp.

Như đôi điều tâm sự cùng người đã khuất, xin chép ra đây hai bản dịch của ông và hai bản dịch của tôi, một bản giả vờ tuân theo niêm luật, một bản noi gương cụ Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, đi theo nguyên tác mà bước ra ngoài luật thơ.

Tô Thẩm Huy

Houston, tháng 9, 2004

Lầu Hoàng Hạc


Bài một

Hạc vàng người cưỡi biết đâu nơi

Gác hạc vàng đây đứng ngóng trời

Một phới hạc vàng không trở lại

Nghìn trùng mây trắng mãi rong chơi

Ngàn cây bến Hán còn ngơ ngác

Lớp cỏ châu Anh vẫn ngậm ngùi

Chiều xuống có quê mà chẳng ở

Để sầu khói phủ với sông trôi

Bài hai

Chuyện xưa người cưỡi lưng hoàng hạc

Bỏ mặc bên đường gác Hạc không

Một chuyến vàng bay chìm bóng hạc

Nghìn đời trắng xoá gợn mây bông

Hán Dương rờ rỡ hàng cây bến

Anh Vũ lê thê lớp cỏ đồng

Chiều xuống nơi nào quê quán nhỉ

Nhớ thương thương nhớ khói đầy sông

Nguyễn Đức Hiển

Bài một

Cưỡi hạc người xưa đã khuất vời

Trơ lầu Hoàng Hạc đứng chơi vơi

Mù tăm cánh vút, vàng bay mãi

Lờ lững mây trôi, trắng ngập trời

Xanh bóng Hán Dương sông loáng nắng

Quạnh bờ Anh Vũ cỏ im hơi

Chiều nay sương khói dâng trên sóng

Sầu thẫm hoàng hôn lạnh xứ người

Bài hai

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất

Đây lầu Hoàng Hạc lạnh tầng không

Một đi bóng hạc vàng hun hút

Muôn thuở mầu mây trắng chập chùng

Cây bến Hán Dương in trong nắng

Cỏ bờ Anh Vũ trĩu bên sông

Chiều rơi thoi thóp đâu quê quán

Khói sóng dâng khơi giục não lòng.

Tô Thẩm Huy

Ghi chú:

(1)    Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hạc Lâu, in lại trong ‘Tản Đà, Về Tác Giả và Tác Phẩm’, NhiềuTác Giả,

NXB Giáo Dục, 2000, trang 330, 331.

(2)  Nhất quyền đả đảo Hoàng hạc lâu,  Lưỡng cước thích phiên Anh Vũ châu,

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,  Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu. (Lý Bạch)

Một quyền đấm lệch Hoàng Hạc lâu,  Hai cước đá phăng Anh Vũ châu.

Cảnh đẹp lọ là xin gác bút,  Kìa thơ Thôi Hiệu ngửng ngang đầu. (TTH)


(3) Nguyên tác và một số các bản dịch khác:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tảikhông du du

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Người xưa đã cưỡi hoàng hạc đi mất

Chốn này luống còn riêng lầu Hoàng Hạc

Hoàng hạc một đi là đi mãi không trở lại

Mây trắng nghìn năm thì cứ lững lờ bay

Sông trong vắt, hàng cây Hán Dương hiện rõ

Cỏ ngun ngút , bờ bãi Anh Vũ ngậm ngùi

Ngày đang tắt, quê hương biết ở phương nào

Khói sóng trên sông giục lòng ta nỗi muộn phiền




Người xưa cưỡi hạc đã lên mây

Lầu hạc còn suông với chốn này

Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn

Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay

Vàng gieo bến Hán ngàn cây hửng

Xanh ngút châu Anh lớp cỏ dầy

Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ

Đầy sông khói sóng gợi niềm tây

Ngô Tất Tố

Người xưa cưỡi hạc đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Tản Đà

Người tiên xưa cưỡi hạc vàng tếch

Ở đây còn có lầu hạc trơ

Hạc vàng một tếch chẳng về nữa

Mây trắng nghìn năm còn phất phơ

Sông tạnh Hán Dương cây sát sát

Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa

Trời chiều quê quán đâu chăng nhỉ

Khói sóng trên sông giục nhớ nhà

Tùng Vân

Người đi cưỡi hạc từ xưa

Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu

Hạc vàng đi mất đã lâu

Ngàn năm mây trắng một mầu mênh mông

Hán Dương cây bóng lòng sông

Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì

Chiều hôm lai láng lòng quê

Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu

Trần Trọng Kim

Vũ Hữu Định và… Chút gì để nhớ

TRẦN TRUNG SÁNG

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh năm Nhâm Ngọ, 1942, tại Huế, nhưng định cư ở Đà Nẵng lâu năm và thường xuyên tham gia trong nhóm sinh hoạt Văn học Nghệ thuật Quảng Đà. Trước 1975, anh làm thơ rất nhiều, song đợi đến khi Phạm Duy phổ nhạc bài thơ “Còn một chút gì để nhớ” và qua tiếng hát vượt thời gian của Thái Thanh, mới thực sự chắp đôi cánh tuyệt vời cho ý thơ anh bay bổng. Vũ Hữu Định qua đời tại nhà một người bạn bên bờ sông Đà Nẵng vào một đêm trăng tháng Giêng (16-1 âm lịch) tuyệt đẹp năm Tân Dậu 1981.

“Còn một chút gì để nhớ” là tên một bài thơ của Vũ Hữu Định, viết về thành phố Pleiku, khi anh ghé đến thăm người bạn gái nhỏ vào năm 1970. Bài thơ in lần đầu cùng năm trên tuần báo Khởi Hành và trở nên phổ biến rộng rãi, được nhiều người hết sức yêu chuộng, sau khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.

Phạm Duy cho biết, ông đã từng tìm gặp Vũ Hữu Định ở Pleiku trong một chuyến đi tìm cảm hứng và nhất là tìm hiểu tâm trạng những nhà thơ trẻ, đại đa số khi ấy đang đi lính hay đang trốn lính. Khi chọn và phổ nhạc bài thơ của Vũ Hữu Định, ông không thêm bớt một chữ nào. Ông đã giữ nguyên vẹn cấu trúc cũng như vận tiết của bài thơ, chỉ dùng một thanh âm có bán cung của dân ca Jarai hay Banar để gợi cái không khí cao nguyên và một chuyển giọng ở đoạn cuối để cho bài ca có thêm màu sắc.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, phải thừa nhận, Vũ Hữu Định đã nhanh chóng chớp thời cơ, khẳng định tên tuổi của mình qua hàng loạt bài thơ xuất sắc, khí phách, ngang tàng trên văn đàn.

Vũ Hữu Định cũng tạo ấn tượng với giới văn nghệ miền Nam bằng chuyến giang hồ cùng nhạc sĩ Trần Quang Lộc khi vào Sài Gòn làm đình đám tại Hội quán Cây tre của ca sĩ Khánh Ly để giới thiệu thơ anh và nhạc Trần Quang Lộc. Thời gian Vũ Hữu Định lang bạt tại Sài Gòn, nhà thơ Du Tử Lê kể lại: “Lúc này là thời gian Nguyễn Tất Nhiên (tác giả nhiều bài thơ cũng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nổi tiếng như Thà như giọt mưa, Em hiền như masoeur…) “tha” người về nhà tôi nhiều nhất. Trong số những người Nhiên tha về đó, có Vũ Hữu Định. Nhiên cười toe bảo, Vũ Hữu Định đấy anh. Em Pleiku má đỏ môi hồng đó anh…”. Du Tử Lê cũng nói rõ: “Điều tôi thích nhất nơi Vũ Hữu Định, là Định không bao giờ thảo luận văn chương với tôi. Định cũng rất ít khi bắt tôi phải nghe thơ của anh (điểm này, hoàn toàn trái ngược với Nguyễn Tất Nhiên). Định cũng không màu mè, không lên gân, không tác điệu cho ra vẻ của một người làm thơ. Cần gì, Định nói thẳng thành lời, chẳng quanh co rào đón. Bên trong cái dáng vẻ cục mịch, hơi ngơ ngác, Vũ Hữu Định, trong ghi nhận của tôi còn là một người rất ý tứ…”.

Sinh thời, vốn trải chịu một cuộc đời đầy đắng cay, lận đận, có lẽ vì vậy, mà thơ của Vũ Hữu Định thường mang tâm trạng u hoài, ta thán về một kiếp người lỡ vận: “Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận. Hát âm u trong đêm tối một mình”. Hình như, với nhà thơ, đêm tối lúc nào cũng là cái phông thẳm sâu của kiếp người, của những bước chân đi không bao giờ đến đích: “Một ngày gió tạnh bên vườn cỏ hoang. Ta nhìn con sâu đo đoạn đời buồn. Em có biết dưới lá mòn hạnh phúc. Trên chân sâu từng ngày tháng héo hon”.

Tuy nhiên, đặc sắc hơn cả là những bài thơ Vũ Hữu Định viết về rượu và chuyện giang hồ. Hầu như phần lớn nội dung các sáng tác của anh đều quanh quẩn ở hai chủ đề này. Chẳng hạn về rượu: “Một ngày rượu uống sao không mềm môi. Một ngày nhớ nhau gió xé mây trời. Cỏ cây cũng gục trong sầu ngất. Một ngày quạnh hiu chết chậm trong đời”(Ngày quạnh hiu). Hoặc: “…Cảm đau thân thế người trong sử. Rượu đắng cay mà sao thấy ngon” (Đêm mưa thiếu rượu nhớ Lý Hạ).

Về chuyện giang hồ, đoạn thơ dưới đây được nhiều người biết hơn cả: “Chiều dựng. Mùa đông mây xám ngắt. Núi cao trời thấp có ta về. Giang hồ đâu có ai phong ấn. Mà nghĩ từ quan trở lại quê”(Chẳng hay).

Vào khoảng năm 1996, một số thân hữu của nhà thơ Vũ Hữu Định đã góp tay, góp tài chánh để thực hiện tập thơ Còn chút gì để nhớ do NXB Trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Tuy nhiên, đến nay, nhiều người cho rằng vẫn còn nhiều bản thảo của anh lưu lạc trên bạn bè chưa tập hợp đầy đủ.

TRẦN TRUNG SÁNG

Lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương Hồ Bắc

Bản dịch thơ của Tô Thẩm Huy

Nguyên Tác : Hoàng Hạc Lâu -Thôi Hiệu

Bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã được nhiều thi sĩ tiền bối  lừng danh từng dịch như :Tản Đà,Trần Trọng Kim Trần Trọng San Ngô TấtTố ,Nhật Chiêu ,Vũ Hoàng Chương …..Một  Tiến sĩ toán học mê văn chương  ở Houston Texas  cũng phỏng dịch. Nguyễn Hàn Chung xin được giới thiệu cùng các bạn .

Bài 1

Cưỡi hạc người xưa đã khuất vời

Đây lầu Hoàng Hạc đứng chơi vơi

Mù tăm cánh vút, vàng muôn thuở

Lờ lững mây trôi, trắng ngập trời

Xanh bóng Hán Dương sông loáng nắng

Quạnh bờ Anh Vũ cỏ im hơi

Chiều nay sương  khói dâng trên sóng

Sầu thẫm hoàng  hôn lạnh xứ người


Bài 2

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất

Trơ lầu Hoàng Hạc lạnh tầng không

Một đi bóng hạc vàng hun hút

Muôn thuở trời mây trắng chập chùng

Cây bến Hán Dương in trong nắng

Cỏ bờ Anh Vũ lặng bên sông

Chiều rơi thoi thóp đâu quê quán

Khói sóng dâng khơi giục não lòng

2/21/10

Phản tuyên ngôn thơ


Nguyễn Hàn Chung

Thơ  không là

dung nham

rỉ ri  từ lỗ hẻ

đẻ ra từ bệ phóng khật khùng

sính đồng bóng

khơi nỗi cuồng liệt dương

Thơ không  là

bộ phận sinh linh quần thảo

trong cơn bất thần phấn hứng

dung nham

thì thụt về đâu

thít xuống  trôn

thơ vẫn  thùy đại não

rài rạc dung nham hôi hổi

con chữ bồi hồi thiêm thiếp giấc mơ

Thơ  không là

dung nham

chắt ra từ túi tinh cường liệt

rủa sả  cho sướng miệng

đẻ rớt trên da chùm bợt bụi tàn

Thơ không màng

dung nham

14/2/2010

Bài tha phương sáu mươi


Nguyễn Hàn Chung

Những cộng tóc dần xa nếp trán

Nói em vui hơi hám dường bao!

Quấn nỗi nhớ vào chăn quýnh quáng

Chiều ba mươi không cúc chẳng đào

Đòn bánh tét  khơi cuối chiều quặn thắt

Giận cơn mưa hà hiếp quê nghèo

Không cần nữa những câu thơ thiếu tháng

Chị đang cần một tấm phên treo

Đêm hú hí với phím bàn tanh tách

Thả tênh hênh những phiền muộn không rời

Biết các cháu đến trường không đủ sách

Thì ráng cày thêm một bữa.Dù sao…

Cứ đầu tháng trái tim đều trở chứng

Tờ hóa đơn đàn áp nỗi thương quê

Một năm chẵn ba lần xông tới quán

Cuộc phù du đành lỗi trăng thề

Bơ với sữa chẳng qua trò nhạo báng

Vẫn mùi cơm thơm nức buổi ra đồng

Tủ lạnh thiếu con tràu cái bống

Tháng với ngày nhai nuốt long đong

Anh gồng gánh thêm một mùa xuân lạc

Nếp nhăn em đắm đuối chung tình

Hơi chữ ngấm mùi khói nhang tết nhứt

Câu thơ mòn mà lạ cứ vang câm…

Houston Texas 12/09

Ngẫu hứng Valentin

Ánh Tuyết

Valentin với ngưòi ta

Mình đâu còn thuở nhận hoa của người

Bồi hồi ,mình với mình thôi

Bước cao , bước thấp đường đời chênh vênh

Năm qua nhanh , tháng qua nhanh

Mới thôi đã lại mấp mênh cái già

Người như ảo ảnh phía xa

Mải mê, ta vớt trăng ngà đáy sông

Dốc bồ thương kẻ ăn đong

Xót cơn đại hạn, khát trông mưa rào

Hình như… xuân cũng cồn cào

Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai.

Lời bình của Nguyễn Hàn Chung

Thoạt tiên mới đọc 2 câu thơ mở đầu  bài thơ Ngẫu hứng Valentin của Ánh Tuyết dù chưa hân hạnh quen biết  nữ thi sĩ tôi đã  võ đoán muốn nói  lời đôi co với tác giả   :. Tuổi nào là tuổi còn thuở nhận hoa của người tuổi nào thì mất quyền công dân tình yêu ? Theo thiển ý của kẻ này thì bất kỳ ở thuở tuổi nào cũng ‘’ còn ‘’cả .  Người trẻ  trung tươi như hoa  nhận  cái đẹp của hoa tươi , người già cỗi như hoa úa mà thậm chí hoa tàn nhận cái đẹp riêng của hoa tàn chẳng thế mà cụ Nguyễn Tiên Điền bật đèn xanh  cho chàng Kim thốt một lời nghịch lý mà thuận tình  đó sao :  ‘’hoa tàn mà lại thêm tươi- trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa ‘’ Tình yêu nào phải độc quyền của tuổi trẻ .  Nhà  thơ Phan Khôi đã từng  khơi mở quyền yêu của cặp tình xưa hom hem, héo hắt trong bài thơ Tình già bất hủ ‘’Hai mươi bốn năm sau ,tình cờ đất khách gặp nhauĐôi cái đầu đều bạc’’ thế mà bất chấp cái  dâu bể hai mươi bốn năm trời họ vẫn còn ‘’ liếc đưa nhau đi rồi ,con mắt còn có đuôi ‘’.Còn sâu đậm hơn gấp bội lần việc nhận hoa của đôi trẻ đấy chứ! Thật thế , có khi  tình yêu đã lặm vào phế phủ  nó còn công phá ghê gớm gấp mấy lần cái tình yêu bùng phát mãnh liệt nhưng chóng lụi tàn của nam nữ thanh niên  ! Nghĩ thế mà nghe em than thở ‘’Bồi hồi mình với mình thôi- Bước cao, bước thấp đường đời chênh vênh ‘’anh vẫn thấy một nỗi xót xa không thể kìm nén .Em than oán cái gã thời gian vô tình ‘’ năm qua nhanh tháng qua nhanh ‘’ người con gái  ‘’Mới thôi đã lại mấp mênh cái già ‘’ để rồi bóng hình năm cũ  như ‘’ ảo ảnh phía xa’’ còn chủ thể trữ tình thì lại ‘’mải mê vớt trăng ngà đáy sông ‘’.Ai vớt , tác giả không nói rõ rành em hay là anh ,tác giả lại  hạ đại từ ta như là sự khái quát một quy luật vĩnh hằng tất yếu : không ai đủ sức ‘’lạy muôn vì tinh tú nhé –xin đừng luân chuyển để thời gian – chậm đi……”nên đành phải làm một công việc lãng mạn đấy ,thi vị đấy mà cũng đầy  xót xa cay đắng  bởi có ai dẫu là thi tiên họ Lý chăng nữa vớt bóng tìm xưa đặng nào ?

Câu thơ ‘’Dốc bồ, thương kẻ ăn đong ‘’tác giả cũng dùng lối nói phiếm chỉ không khẳng định ai dốc bồ bố thí cho kẻ ăn đong một chút cho tình yêu nhưng đến câu thơ tiép theo ‘’xót cơn đại hạn ,khát trông mưa rào ‘’thì cái tôi chủ thể buộc phải xuất đầu lộ diện Ai găp cơn đại hạn ,khát khao một trận mưa rào nữa nếu không phải là tác giả sau khi cúi thân vớt cái trăng ngà lên cồn cào một nỗi “xuân đi xuân lại lại’’khi bắt gặp cái ngày tình yêu  dạt dào tuôn chảy vào cái bồ tình yêu trống không trong tâm hồn nữ sĩ .

Mượn cái tiêu đề bài thơ Ngẫu hứng Valentin tác giả muốn  người đọc

hiểu rằng đây chỉ là phút ngẫu hứng nhất thời khi ngày tình yêu tới mà ta đã mấp mênh cái già không còn ai đoái hoài  đón đưa biếu, tặng  nữa phải chua xót thốt  lên ‘’bồi hồi mình với mình thôi ‘’.nhưng rồi cuối cùng vẫn bộc tỏ sự lạc quan đáng kính nể khi tác giả tự khẳng định ‘’ Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai’’ ..Tháng hai  tình yêu của người  trẻ trung nồng nàn say đắm bao nhiêu thì tháng  hai  tình yêu của  người  già cũng cồn cào không kém đắm say bấy nhiêu mà có phần bền chặt hơn là đằng khác, không hơn sao’’ vẫn dạt dào tháng hai ‘’

Ngẫu hứng Valentin của Ánh Tuyết cũng không đào thoát khỏi  môtip cảm khái tình yêu  ngoái lại thời trai trẻ của những người mải lo toan ‘’ áo xiêm ràng buộc ‘’ chợt một ngày nào đó cảm thấu bước đi không ngoái lại của thời gian mà bồi hồi ngẫm ngợi.  Thôi người ạ!Ai muốn bước cao bước thấp hái  trái cấm vào thời gian nào còn  tuỳ thuộc vào thể trạng tình yêu, bản chất tình yêu của cái đường đời chênh vênh ấy . Tuy nhiên tôi muốn thầm thĩ với tác giả Ngẫu hứng Valentin một câu này :Người nằm dưới đáy mộ sâu cả mấy  nghìn năm  còn thượng hưởng hoa hương của khách đa tình đời sau huống hồ…Đừng’’ hình như’’ , đừng ‘’cũng ,vẫn ‘’nghe nó miễn cưỡng và buồn làm sao ấy’’. Xin được chung vốn với tác giả mấy câu thơ của người bình “Bây giờ có thể người ta chán những người già đang yêu –Khi họ chiều- những người già không dám yêu mới làm ta chán

TẾT NHỨT VỀ QUÊ

Huỳnh Minh Tâm

I-Tết nhứt là hội tụ, là quay về, là mở ra cái quê quán tôi xưa đã phôi pha trong kí ức. Chột dạ nhớ quê huơng. “Chẳng làm gì được cho quê/chỉ xin làm cỏ chân đê giữ làng”(Nguyễn Hàn Chung). Quê hương có bao xa mà quê hương xa xa lắm. Mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm tính toán so đo mê mải rồi lần dò trở về quê lúc tết nhứt bề bộn gió mưa rét giá cuối đông.Đường về quê xa lắc/độ tóc bạc độ tình phai/đất khách đứng ngồi chân mỏi/đêm nằm hoa rụng trắng giường/đâu dáng mẹ ngồi bậu cửa/tay đưa giấc ngủ trưa hè/câu ca dao chơi ngoài gốc rạ/chưa về thổi lửa nấu cơm/tí tách mưa đêm vườn ổi/đâu con sâu róm lá non/đường về quê sao xa lắc/bò ngang bò dọc cụt cành.Đọc thơ đến đó, thằng bạn thân của tôi ba mươi năm mới quay về  thăm quê ôm mặt khóc não nề tan nát. Tất thảy một dòng chớp thời gian. dời người mộng tưởng. “Thảo sắc thanh thanh liễu sắc hoàng/ đào hoa lịch loạn lí hoa hương/ đông phong bất vị xuy sầu khứ/ xuân nhật thiên năng nhạ hận trường”(Sắc cỏ xanh xanh sắc liễu vàng/hoa đào hoa lí lẫn mùi hương/gió đông chẳng thổi sầu đi hết/mối hận ngày xuân để vấn vương,Xuân tứ-Giả Chí).

II-Tết nhứt là thời khắc gì gì hoa nở trời xanh? mùa xuân là mùa màng sum họp gì gì mà nắng thơm thơ mộng?ngoài sân hoa cải đã vàng/mùa như đã muốn nắng sang Giêng rồi/bến chiều vẫn một mình tôi/chìm trong vang động lở bồi đời sông”(Ngoài xuân, Phan Chín). Phố xá, siêu thị, chợ búa tấp nập, nghìn nghịt người là thế, mà sao anh Phan Chín của tôi lại cô đơn cô độc sầu thảm thế, tội nghiệp thế !?. Thi sĩ là kẻ mơ mộng viễn vông cổ quái, không chịu khép vào khuôn sáo vui vẻ của cuộc đời, cứ ngu ngơ muốn bung ra cái tâm tưởng xa lạ tịch tĩnh. “Phố hôm nay phủ xiêm người/em về đầy đủ môi cười bên răng/ngày vui xê xích hai hàng/tháng so le đếm bờ ngăn bến rào/thưa em từ bữa xa nào/ nhìn nhau mộng đã bước vào trong mơ/ những nhành mai sớm sương bên lá/những nhành liễu chiều gió bên cây/ cũng lay lắt bởi đời xuân em ạ/thế nên chi anh cũng viết dòng này/ hồng vàng tụ bữa kia em có thấy/nước xuôi dòng là cổ độ nhìn theo/ tuổi mười sáu bây giờ lên gấp gãy/mộng miên man là mây phủ lưng đèo” (Bùi Giáng). cảm thấy lênh loang lếnh loáng ở đâu đó cái tôi phiêu dạt của những cánh hoa vô thường trôi nổi. Cảm thấy khăn gói của người bồng bế tôi qua nhiều cánh cửa thời gian, qua các cuộc rượu đắng mứt ngọt.

III-Đầu tháng giêng mà mưa lạnh. cái sum vầy của lòng người có ấm lại những kỷ niệm thành quách xa xưa ? Chợt hé cánh cửa và người ra đi, đi mãi.Đếm lại, ôn lần những gương mặt thân quen tưởng chừng lẫn quất ở đâu đó . Về, về đây đi. Tay em đâu trèo nhành bưởi/ tóc em đâu mắc nhánh tre xanh/ tuổi em đâu mai vàng đón tết/ tình em đâu nắng ấm Giêng Hai/ nào bát tiên nào cúc trắng/ nào vạn thọ mộc mạc tình đời/ nào giếng nước mát lành chảy rưng cuống họng/ nào trầu cau ai buộc tình ai/đường về quê sao mà xa lắc/xa như giấc mộng tuổi thơ/có con dế chiều kia ra trận/gãy đôi chân nằm khóc tỉ tê. tỉ tê tê tỉ với cái tôi trước ngưỡng mùa xuân xanh mơn mởn như thế tưởng cũng là quá chén. Bởi hồn xuân vẫn mang mang niềm hạnh phúc đầu ngõ cuối sân. Bởi vũ trụ rộng lớn hồ hởi biến dịch biến di lá rụng cây lại đâm chồi. “nơi vết sẹo thân cây/ bật lên chiếc chồi non biếc/như đôi cánh thiên thần/lộng lẫy niềm tin/toả vầng xuân bát ngát”(Đỗ Thượng Thế). Chào anh thi sĩ.Anh vẫn còn tỉnh táo thế sao ? “ Còn ở lại lột ngày còn yêu mãi/còn một đêm còn thở dưới trăng sao/thì cánh mông còn tung lên không ngại/Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao” (Bùi Giáng).


MÙA XUÂN LANG BẠT KỲ HỒ

Nói theo kiểu Từ điển Việt Nam, Viện Ngôn ngữ hoc, NXB Đà Nẵng 2005, lang bạt : “sống nay đây mai đó, ở những nơi xa lạ. Cuộc đời lang bạt, đi lang bạt để kiếm ăn; còn lang bạt kỳ hồ như lang bạt, nhưng nghĩa mạnh hơn”. Vậy là, suy diễn rộng dài ra, hoặc là tưởng tượng mông lung miên viễn , thì cố xứ của ta lúc bấy giờ, hiện trạng lúc đua chen là viễn vông, viễn tượng, viễn ảnh, không nơi chốn của tâm thức vượn người; cái tự ngã của ta biến mất ?

Nói theo kiểu cố thi sĩ, trung niên thi sĩ kì dị, đa đoan Bùi Giáng (thì tôi cứ tưởng vậy, xem như vậy, vơ vào vậy ! ) là: “ cỏ hoa hồn du mục/ nghe trời đổ lộn nguyên khê/tiếng vang rụng rớt gieo về động xanh/ gót chân khơi rộng bóng cành/ nhịp vang dầu núi vọng thành luỹ xiêu/ thời gian chắn bước bên chiều/ khóc sông bến lạ mưa nhiều sớm xuân/ cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng/ hồndu mục cũ xa gần hử em”. Tức là nghe trong trời dất một sự đổ vỡ liên miên,liên tục, vắt dòng, xuống nhịp trèo non. Tất thảy nói lên rằng, tất thảy dường như vô thường trường cửu biến dịch, không chịu nổi cái cũ kỹ buồn thỉu buồn thiu, mà phải, ắt phải dấn thân vào chốn mơn mởn đìu hiu, xanh biếc cô liêu ?. Ngủ yên bến lá cỏ chiều/ quên cây bóng xế quên triều biển ru/ duỗi thân thể muối sương mù/ dung nhan sầu khổ bây giờ bỏ đi/ niềm chung với nỗi riêng gì/ linh hồn xiêm mỏng không vì mây bay (ngủ yên- Bùi Giáng).

Nói theo kiểu cố Nhạc sĩ thiên tài bất định Trịnh Công Sơn là: “ngày mai em đi/ biển nhớ tên em gọi về/ gọi hồn liễu rũ lê thê/ gọi bờ cát trắng đêm khuya/ ngày mai em đi/ đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ/  sởi đá trông em từng giờ/ nghe buồn nhịp chân bơ vơ/ ngày mai em đi/ biển nhớ em quay về nguồn/ gọi trùng dương gió ngập hồn/ bàn tay chắn gió mưa sang/ ngày mai em đi/ thành phố mắt đêm đèn mờ/ hồn lẻ nghiêng vai gọi buồn/ nghe ngoài biển động buồn hơn”. Thấy gì thấy gì một cuộc ra đi đơn thương độc mã .Ra đi đi xa những cũ mềm luyến nhớ để trở về tao phùng với dằn vặt quằn quại tử biệt sinh ly. Tiếng nhạc não nùng chăng ? thê thiết chăng ? tin yêu chăng ? hy vọng chăng ? để hồi âm ngơ ngẩn ngẩn ngơ. Tiếng nhạc buông chùng lơi lả lả lơi để đôi chân rắn rỏi theo tiếng vọng của tâm tưởng mơ hồ phiêu hốt ?

Nói theo kiểu điên dại của tôi, dại khờ ngu ngơ ngớ ngẩn, đó là : Kỳ hồ lang lạt, thưa em/ lại thêm lang bạt lại thêm kỳ hồ/ năm này tết nhứt rồi sao ?/ năm nào tết đến năm nào tết đi ?/ tuổi mình tính rỉ tính ri/ tuổi rồng tuổi rắn tuổi dì tuổi cô/ hỏi ra lang bạt kỳ hồ/ lại thêm lang bạt kỳ hồ lại thêm/ chân dài tóc bụi hoa niên/ ngó ra xuân đã kề bên chân tường/ cánh cò dõi bóng quê hương/ trời xanh ai nhắn mùa màng thắm sâu/ hỏi sương ;bạn cũ năm nào ?/ chỉ nghe nước chảy giá cầu tương tư. căn bệnh trầm kha của họ “Thi” với những mảnh vụn của kí ức, thời gian và bất chợt tương tư thức muộn. Trường sinh ly còn lẫn quất đó đây trong lục bát lang bạt tái tê. Rồi có hạnh ngộ được chăng với biển đời mà trăm sông dòm ngó. mặc kệ đi chăng ? u sầu thế ? yếu đuối thê ? hãy nhìn xem, hãy nghe ra : “ Xuân khứ bách hoa lạc/ xuân đáo bách hoa khai/ sư trục nhãn tiền quá/ lão tùng đầu thượng lai/ mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Mãn Giác Thiền sư) (Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mắt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi/ chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ đêm qua sân trước một cành mai).

Tưởng khúc

Nguyễn Hàn Chung

Nhớ trung niên thi sĩ Bùi Giáng

Người điên ngất ngưởng Sài gòn

Tấm xương châu chấu chuồn chuồn trổ bông

Rượu hoang rớt hột phiêu bồng

Tay vò đến chín cõi không sắc rồi

Ta bà tá hỏa rong chơi

Cuộc nghiêm mật rất rụng rời nỗi em

Người điên cho kẻ tỉnh thèm

Con vi trùng cũng chết chìm vì yêu

Thiếu ái khanh trẫm sống liều

Ái khanh thiếu trẫm tới tiều tụy xương

Người điên khát lá hoa cồn

Một con mắt lén hoàng hôn thức thầm

Màu hoa tím cả đêm rằm

Khúc lầu xanh động đến lầm than tôi

Mộng ban đầu biển xanh chơi

Biêt còn đánh giấc đã đời cùng ai…

Ba bài Bình của Huỳnh Minh Tâm

Huỳnh Minh Tâm – Một cây bút chững chạc và sung sức của Quảng Nam .Anh sử dụng thuần thục chiêu song thức hỗ bác tay phải ra thơ tay trái múa tản mạn , phê bình  món bảo bối  Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông của Kim Dung  thường sử dụng  Là Kỹ sư ,thầy giáo dạy  môn Vật lý lại say thơ như điếu đổ ,mê bạn văn như mê tình nhân .bây giờ lại đa mang  thêm cái nghiệp phê bình ngậm ngùi nầy nữa. Nguyễn Hàn Chung trân trọng giới thiệu với ban đọc ba bài điểm ,bình có phần đặc dị  về  ba cây bút  dất Quảng của anh .

TIÊU ĐÌNH VÀ TẬP TRUYỆN MỘNG DU GIỮA NGÀY

( nhân đọc tập truyện ngắn Mộng du giữa ngày của Nhà Văn Tiêu Đình, NXB Đà Nẵng, 2009)

Tôi không ngờ nhà văn Tiêu Đình lại viết sung lực sung mãn như vậy. Chỉ gần 10 năm anh cho ra mắt độc giả 6 tập sách đầy đặn. Năm 1997 là tập truyện ngắn phiên toà trên cát, năm 1999 là Quế Sơn-văn hoá và thăng trầm, năm 2001 là truyện thiếu nhi Đội bóng nhí xóm mới, năm 2003 là Vùng giao thoa, năm 2006 là Đảo Robot, và cuối năm 2009 này là tập truyện ngắn Mộng du giữa ngày.

Có dịp đọc các tập truyện ngắn của nhà văn Tiêu Đình, xuyên suốt hành trình  lao động vất vả và nghiêm túc trên các con chữ, tôi có cảm nhận ngôn ngữ  quê hương,các hình ảnh, tập tục tập quán xứ Quảng thấm đẫm trong từng trang viết của anh. Và có lẽ chính cái gốc rễ máu thịt mê ly ấy đã nuôi nấng nâng đỡ tâm hồn nhà văn bay bổng, có sức viết, sức lan toả. Văn chương của Tiêu Đình đậm đặc chất truyền thống về cơ sở văn hoá, kết cấu truyện khá bền vững , nhuần nhị và giản dị.

Các câu chuyện mà nhà văn Tiêu Đình kể với bạn đọc chúng ta là những sự kiện, đề tài mới có, cũ có, đan xen nhau trong nhịp thời gian vật lý và tâm lý của các nhân vật. Nhưng dẫu câu chuyện có xãy ra ở những giai đoạn nào của lịch sử dân tộc nói chung, hoặc là lịch sử một vùng đất nói riêng, thì tự bản thân nó vẫn mang hơi ấm phập phù của cuộc sống hiện thực, hiện đại, vẫn là những dấu tích bao nỗi lo toan trằn trọc của một con người cụ thể, nhân vật cụ thể đứng trước thời buổi kinh tế thị trường nhiều biến động và dường như rập rình  sự bất ổn. Các câu truyện tập trung  vấn đề sự dao động, mất cân bằng, sự phá vỡ các quan niệm đạo đức đôi khi chưa được sự đồng tình ủng hộ của nhiều tầng lớp xã hội, cả mặt trái lẫn mặt phải, sự xuống cấp nhân phẩm đạo đức của một số “nhân vật có quyền” trong xã hội.

Tập truyện ngắn mới mẻ Mộng du giữa ngày của anh vẫn không nằm ngoài những vấn đề nóng hổi trên, có tính thời sự hiện đại, tính cập nhật internet . 19 câu truyện trong tập là sự bố trí đan xen các câu chuyện về tình yêu, cái đẹp đứng trước những thách thức nghiệt ngã của thời gian và các quan niệm nhân sinh. Mở đầu tập là truyện ngắn  Hoa dủ dẻ. Đó là cây chuyện đôi người cô dơn chia sẻ nhau về những kỷ niệm tình yêu ngang trái. Nhân vật chính “tôi” và anh bạn cùng gặp nhau triâm, cùng cung bậc là gĩư trong ký ức những hình ảnh tình yêu đơn độc và buồn. Nhưng dường như cái phần tốt đẹp nhất trong mỗi con người vẫn còn lung linh đâu đó với hình tượng thơm lừng của hoa dủ dẻ,lảng vảng đâu đó giữa mùi hương dủ dẻ lừng lựng cả hoàng hôn,và,còn nhớ, buổi chiều hôm đó bầu trời xanh hơn mọi lần xanh. và hương dủ dẻ tha hồ bay. Tác phẩm là một bài thơ đẹp và buồn. Truyện ngắn Giờ chót mang nỗi nhớ nhung da diết của những người con tha hương trong những ngày tết nhứt. Bạn đọc còn tìm thấy ở đây nhiều lý do của sự nghèo khổ, sự xô bồ của cuộc sống hiện đại đã đè nặng tâm trí của hai cô gái -nhân vật chính câu chuyện. Truyện file ẩn có giọng văn hóm hỉnh , một chút hài về sự ngốn ngang, bao trái khoáy của cuộc sống thời văn minh náo nhiệt. Buồn thật buồn, cô đơn thật cô đơn. Nhưng cái đẹp vẫn tồn tại, hiện diện, lẫn khuất ở đâu đó đẫu rất mong manh và bí nhiệm. Hai câu truyện cuối của tập là những câu truyện hay. Truyện Quà tặng của trời là khúc ru buồn bã của tình yêu với những hệ luỵ, phiền toái, chán chường.Dẫu vậy truyện ca ngợi phụ nữ như một hấp lực, là một phần huyền nhiệm không thể thiếu của cuộc sống, mà đôi khi ai đó đã chối từ thì tác giả xem như là một sai lầm to lớn vậy.. Chất giọng truyện này thoáng, bay bổng, tuy có phần nặng triết lý, giảng giải. Sóng xao bến Rì kể về chuyện một người con gái bao năm biền biệt quê xú, bất chợt những năm tháng mùa thu cuộc đời lại quay về quê hương, về bến rì sóng xao nhắc nhở bao kỷ niệm yêu dấu, tình yêu, tuổi thơ, cái đẹp. Mô típ truyện quen thuộc, nhưng tác phẩm hay ở chỗ tác giả đã dẫn dắt bạn đọc vào thăm một vùng đất rất đẹp, rất văn hoá và nhiều tâm tình. “không thấy loại rì cây lá nhỏ, dưới nắng chỉ bám mấy chiếc rễ vào cát nóng vẫn cứ sống, cứ xanh. Cũng không thấy loại rìđuổi đan nhau dày đặc trên cát nóng, ngọn giống cái đuôi con cá đuối mẫn cán sống cùng cát  mà không bao giờ chụi để cho cát vùi lấp…” Phải chăng đó là hình tượng sức sông mãnh liệt của con người ?. Ở truyện này tình yêu chân thật, gần gũi của con gười với đất đai, cỏ cây, kỷ niệm được nuôi nấng, bồi bổ. Văn giàu hình ảnh, nhân văn và cảm động.

Còn truyện tôi chú ý là Mộng du giữa ngày-được lấy tựa đề cho tập-rất hiện thực đau đớn xác xao trong cái hiện thực của cuộc sống đang diễn bày. Cuộc sống, nghề nghiệp, tư tưởng túng quẩn của nhân vật trung tâm câu chuyện không nơi nương tựa trông thật tội nghiệp. Con người có lý tưởng, có lòng tự trọng nhưng thật mơ hồ.Có mơ ước nhưng thật viễn vông. đó là chứng hoang tưởng, căn bệnh street cuả thời đại chúng ta. Cốt truyện không rõ ràng, nhoè nhoẹt.Tình huống truyện không có éo le, gay cấn nhưng một số đoạn đội thoại nội tâm gây ấn tượng cho bạn đọc về một cách viết phóng túng, linh họat so với các truyện khác trong tập.

Trong tập mộng du giữa ngày còn nhiều truyện khá thành công, cách viết hóm, đề tài tương đối mới, mang hơi thở của cuộc ssống hiện đại, như sống chung với vỉut, Lương sư, nâng chuẩn 2, nắng lạnh…Qua các truyện của nhà văn Tiêu Đình, ta dễ dàng bắt gặp vẻ đẹp rất chân thực và cảm động của vùng đất Quảng Nam sau chiến tranh, trong công cuộc xây dựng đất nước. Vẻ đẹp tâm hồn và thân thể của các cô gái xứ Quảng tác giả có đề cập đồng đều, rộng khắp, nhưng chưa đặc biệt chú trọng miêu tả một cách đậm đặc, gây ấn tượng mãnh liệt. Bù lại, tính cách các nhân vật nữ không chua ngoa, dị hợm quá trớn, không ê hề chán chường, mà có gì đó cục mịch, chân chất, giản dị. Dường như ở đây ngoài bút  của anh không sa đà mê mẫn mà biết dừng lại cái chỗ xem như hợp lý nhất. Nhịp điệu văn chương nhiều chỗ còn rườm rà, dài dòng, tọc mạch, chưa phù hợp với nhịp sống gấp gáp, lanh lẹ của thời đại công nghiệp và vi tính, chất văn ít có tính biền ngẫu, nhưng văn của anh mạch lạc, chững chạc, hóm và mỉa. Mạch truyện không nhiều tình huống nhưng giàu xúc cảm. Các số phận không được anh đẩy đến tận cùng nỗi đau,  những cảnh ngộ cùng cực éo le, không nêu bật lên những nguyên nhân và hệ luỵ dai dẳng của chúng, nhưng  truyện giàu  chất nhân văn, biết chia sẻ với bao cảnh đời bất hạnh, túng bấn, gửi gắm được tâm sự và thông điệp tốt đẹp đến bạn đọc.

Tuy nhiên điều dễ nhận thấy xuyên suốt các truyện là kịch tính truyện không cao, gút và mở các truyện cũng không lên đến cao trào.Và giá như tác giả kiệm lời luận bàn kiểu “ triết luận” của những ông già triết học, cách kể truyện sinh động trong trẻo hơn, giảm thiểu những cảm xúc dư thừa của các chi tiết truyện, giảm thiểu giọng điệu địa phương tính, mở rộng tính cách các nhân vật thì hy vọng truyện anh sẽ được nhiều bạn đọc yêu mến hơn, nhất là những cây bát “trẻ”. Theo tôi những điều này tác giả “dư sức”, chỉ có điều con tim có chịu chấp nhận đi theo tiếng gọi một loại bút pháp mới mẻ nào đó hay không ?



TIẾNG VỌNG ĐỜI NGƯỜI

(Đọc tập Nghe vọng tiếng đồng, tiểu luận và tạp văn của Lê Trâm, NXB Đà Nẵng 2010)

Đọc tập sách, đôi khi  nhận ra không chỉ rõ ràng “diện mạo” của tác giả bấy lâu ta hằng gặp, mà còn phát hiện ra chiều sâu ẩn khuất của tâm hồn bạn văn bấy lâu ta “cứ nghĩ”, rồi sực tỉnh, “ngộ” ra những điều còn lẩn khuất đâu đó, thảng hoặc nỗi cô đơn không biết chia sẻ cùng ai nên chỉ là huyễn mộng.

Vào những ngày đầu năm dương lịch 2010, cũng là những ngày cuối năm âm lịch Kỷ Sửu, bận rộn bao công việc đồng áng, nhưng khi đọc tập sách Nghe vọng tiếng đồng của Lê Trâm  dường như  tôi đã quên đi nỗi tất bật của cuộc sống. Tập sách gợi cho tôi nhiều suy nghĩ. Nghe vọng tiếng đồng hay, quí và hấp dẫn ở chỗ; một, tác giả đã thẩm thấu, nhận định sâu sắc rất nhiều giá trị văn hóa của nhiều vùng đất, đặc biệt ấn tượng là vùng đất Quảng Nam máu thịt của mình; hai, tác giả đã từ tốn và nhân văn mổ xẻ công việc bếp núc  nghiệp văn của mình và một số đồng nghiệp, thân hữu rất xác đáng, trung thực trong khát vọng bền bỉ đi đến cuối con đương gai góc, mê hoặc.

Nghe vọng tiếng đồng không chỉ là tiếng ngân vọng mãi mãi  đời người của tiếng chuông đồng túp tu u u ù ù ú u u, nghĩa “ đen thui” như Lê Trâm đã viết trong tạp văn cùng tên trong tập, với chất văn sắc sảo, câu chuyện quái kỳ. Nghe ra tên gọi còn mở ra cho bạn đọc nỗi ám ảnh tiếng vọng đồng quê, làng mạc của được và mất, của cái đẹp và hư ảo, của quá khứ và hiện tiền mà tác giả “ăn nằm” hoặc nghĩ về.

Tập sách gồm 24 bài viết. Dường như Lê Trâm cố tình sắp xếp theo trình tự thời gian để nhắc nhở sự biến dịch vô thường của thời gian. Phần tạp văn là hỗn tạp chuyện “bao đồng” ở xứ tôi  (Quảng Nam, Quế Sơn, Tây Giang) lẫn xứ người ( Tây Bắc, Phương Nam, Đất nước triệu voi); chuyện đã qua ( Đi tìm dinh trấn Thanh Chiêm trong…tiểu thuyết ) hoặc chuyện hàng ngày ( Đường về Tây Bắc, Phương Nam không xa ). Tất thảy cũng chỉ là “phông màn” để anh gửi gắm tâm sự, thổ lộ cách nhìn nhận, đánh giá về các vấn đề về bản sắc, các giá trị văn hóa, về cái đẹp, về tình yêu…

Đi tìm dinh trấn Thanh Chiêm…trong tiểu thuyết không chỉ là bản tư liệu dầy ắp về làng mạc, cách bố trí tường thành Thanh Chiêm ngày xưa, đã “bị vùi trong lớp bụi thời gian”, hoặc phê phán cuộc chiến tranh tàn bạo, mà anh còn muốn gợi xa hơn văn bản một sự sống nẩy mầm, cựa quậy, hoặc là đánh thức một nét đẹp văn chương trong bề bộn hỗn loạn của triều đại phong kiến. Nghe vọng tiếng đồng, bằng  cảm hứng tài hoa và mẫn tiệp, Lê Trâm không chỉ giới thiệu một cách chính xác, “ đồng bóng” và sắc sảo về một ngành nghề truyền thống là làm chiêng đồng dưới cây bút của nhà văn, nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân, mà Lê Trâm đã “biết “ thêm thắt để câu chuyện thêm kì bí, hân hoan. Anh viết: “Có lẽ phải tự đọc lấy thôi. Để cảm tiếng đồng-văn và từ đó cảm được tiếng đồng-tiếng. Để còn nghe ngân vọng mãi. Sẽ thấy, sẽ nghe như lạc vào lễ hội của thật nhiều vùng với bao bản sắc khác nhau. Sẽ như lạc vào mùa xuân rộn rã. Rộn mà trầm, ngân mà lắng, ngân vang mà buồn thảm…như số phận các nhân vật trong Tiếng đồng…Nhưng bộ óc tôi không chịu nhớ. Chỉ nghe vọng mãi, ngân mãi những tiếng đồng ma quái, kỳ lạ. Từ một nơi xa, rất xa. Mà cũng thật gần-ngân mãi”

Đường về Tây Bắc, Phương Nam không xa chỉ là những bài ký, ghi lại hành trình đi thực tế, giao lưu văn học. Nhưng cách viết của Lê Trâm thật tỉ mỉ, tròn đầy, chứng tỏ rất nhiều về “tài’ quan sát của anh, về việc cẩn trọng, lý thú, cả nỗi cực nhọc của nghề cầm bút. “ Ngày thứ bảy 14/8/2006 (Thứ Hai). Dự báo thời tiết khu vực Nam bộ ngày 14/8/2006. Trời nhiều mây, có mưa rải rác nhiều nơi, có nơi mưa to. Nhiệt độ 23-330c…Hoặc : Mốc tọa độ Quốc Gia/ Điểm tọa độ GPS 0001/ 80 37’ vĩ Bắc/ 1040 43’ kinh Đông”

Vat phu huyền bí, Mười ngày trên đất triệu voi thì lại khác. Anh khai thác rất kĩ lưởng, công phu các mảng văn hóa ở đất nước bạn Lào. Dường như ở các bài viết này, bạn đọc có cảm nhận người viết cũng kết tinh những nền văn hóa nhất định nào đó. Cách  nhìn,  cách so sánh của anh cũng thật gần gũi, thú vị, mang hơi thở văn hóa và giàu bản sắc các dân tộc. Chỉ riêng điều này thôi cũng không dễ dàng gì. Các tư liệu được khai thác cũng thật quí hiếm.

Về các tiểu luận, Lê Trâm đã  ca ngợi nhiều tác giả, tác phẩm với tinh thần đầy trách nhiệm, quí mến và có tính thời sự. Cái nhìn của anh nặng chất thơ, mỹ cảm và “học hỏi”. Ở loạt bài này thể hiện sự khiêm tốn, giản dị. Chẳng hạn ở các bài : Nhân đọc Điên cuồng như Vệ Tuệ, Bất tận những cánh đồng, Từ Mùa vàng hoa cúc đến Cái nhìn khắc khoải. Rồi Đọc Phiên tòa trên cát (tập truyện ngắn của Tiêu Đình), Bùi Công Dụng và sự lựa chọn mới, Mười năm văn xuôi Quảng Nam- đôi điều cảm nhận, Văn xuôi trên tạp chí Đất Quảng-sự góp mặt thầm lặng, bằng những cảm nhận ôn hòa lẫn nghiêm khắc, chấp nhận bút pháp cũ lẫn khát vọng kết cấu mới, mộc mạc lẫn tế nhị, Lê Trâm đã có những nhận định, nhận xét tương đối thấu đáo và đầy đủ nhiều mặt thành công cũng như hạn chế của một số anh em văn nghệ Quảng Nam. Một số chuyện “bếp núc” văn chương anh viết cũng thật gợi, ấn tượng (Bạn văn, Hồn của cây khô và đá).

Nghe vọng tiếng đồng có kết cấu truyền thống, mạch lạc, giọng văn sáng sủa, trong trẻo, không lên gân cốt mà nhỏ nhẹ, thâm trầm. Tuy vậy, ít tính biền ngẫu, phóng túng nên một vài bài viết còn nặng bài vở, chưa thật xúc cảm. Gấp tập sách lại với bao ám ảnh về nghề cầm bút, lúc nào cũng ngay ngáy hay, dở, được, mất, những khát vọng lớn lao và suy tư vụn vặt. Và còn nghe tiếng vọng ở đâu đó trong tâm hồn con người hay ở trong sách vở ngân mãi, ngân mãi.


THẢO NGUYÊN

VÀ BÀI THƠ KÝ ỨC NỤ HÔN

Nói đến nhà thơ Thảo nguyên là nói đến cõi lòng hoang sơ, “bừa” bộn. Nỗi niềm của Thảo Nguyên là nỗi niềm giao thoa của ký ức và giấc mơ, của “dại khờ trinh trắng” và “tinh anh xanh biếc”. Nghĩa là, khi đọc thơ của Thảo Nguyên, ta dễ bắt gặp giọt nắng hanh của buổi đầu xuân chộn rộn tâm hồn. Nghĩa là, ta dễ dàng xây dựng mộng tưởng và say mê tình yêu. Trong tập thơ đầu tay Miền lá trở vừa ra mắt độc giả, ta thử nghe anh tâm  sự : “Thưa ! thơ vốn cõi không riêng thế hệ nào miễn có  “tấm thẻ hộ chiếu tâm hồn”. Vói tôi đã nhập dời mình qua nhiều thập kỷ. Kính thỉnh chư vị dưới đất trên trời !”. Những lời tự bạch thật phóng khoáng dư dật, chí lí chi li. Còn nhà thơ cùng quê anh Nguyễn Hàn Chung viết giới thiệu anh như sau: “Một Thảo Nguyên bưt phá, vỡ vạc. Thật là lạ, ở cái tuổi “lục thập nhĩ thuận” với những cú rê, kích chuột, ngón ngón mặt phím, rồi khẳng khái en-tơ khá thuần thục với những câu thơ lục bát biến tấu, kỹ thuật và tươi mới…”.

Thảo Nguyên tên thật là Lê sỹ, sinh năm 1950, quê quán Phước Kiều, Điện Bàn, Quảng Nam, là Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam. Tính tuổi thì anh đến “cõi” thơ có phần muộn màng. Thuở ban đầu, thơ đến với anh như  một qui luật tất yếu (hoặc có tên là số phận?). Anh chịu nhiều ảnh hưởng của nền thơ ca học vấn cũ, thể đường luật. Một thời gian khá lâu tri ngộ tri âm với những cây bút trẻ Điện Bàn, miệt mài đọc, tìm tòi, giao lưu với nhiều anh em văn nghệ ở Hội An, Tam kỳ, Đà Nẵng…cánh đồng chữ nghĩa thơ anh chợt rộng mở bao la. Anh viết chậm và kỹ, và đã kịp theo nhịp điệu thơ của thời đại. “Bối rối làn hương bí ẩn/ tình em giăng mắc sao trời/ trái đất lệch đường bay/ chật chội nỗi đau/dày phấn sáp/ tượng đá khản hơi người chẳng đáp/ lời chim một thuở ngậm ngùi” (Giao thừa cùng thiên niên kỷ) Đó là một cảm thức đầy đặn về sự đổi mới, dấn bước trước thế chuyển động tăng tốc của đời sống và thời gian. Anh có bài lục bát khá hay, gieo vần choải và lạ : “ Phố thì phố của ngày xưa/ em thì em của ngày vừa mới lên/ một ta trong cõi bồng bềnh/ một rêu phong một nỗi niềm nguyên sơ/dôị từ em cõi không bờ/ đam mê mấy nẻo ngẩn ngơ bao chiều/ sông Hoài trăng rờ rỡ yêu/ hoa đăng mấy dạo xua đìu hiu bay/ Hội An rạo rực nắng đầy/ Hội An như một mưa cây đầu mùa/ trắng trời áo trắng thu đưa/ em chưa tan học ta chưa chịu về” (Hội An và em). Bài thơ đáng yêu ở chỗ, từ  ngữ anh dùng không mới (bồng bềnh, rêu phong, ngẩn ngơ, rờ rỡ…), nhưng anh biết sắp đặt chúng đúng chỗ, đúng câu, xử lý hình ảnh mới, đẹp, gây ấn tượng (rạo rực nắng đầy, mưa cây đầu mùa…)

Riêng ở bài thơ ký ức nụ hôn mà tôi chọn viết giới thiệu ở đây có thể chưa phải là bài thơ đặc sắc trong tập, tuy nhiên tôi thích ở sự mới mẻ các hình ảnh mà bài thơ dẫn dụ, về “liều lượng” tình yêu bài thơ “áp đặt” đầy, bất ngờ :

Chiều nâng trời dĩ vãng

Em xa xăm hiện về

khổ thơ có tính ước lệ, tính nhạc, dù lời còn cũ

Biển một thời bồng bềnh

Trăng một thời thênh thênh

Phượng một thời hương sắc

mộng một thời cháy đêm

gợi đến một ký ức sáng tươi. Những câu thơ có “hương sắc”, giai điệu mượt mà, mở rộng một ký ức đẻ tưởng tượng mông lung. Những kỷ niệm bất chợt hiện về đâu đó. Ở đấy có bao chân trời khát vọng : Biển, trăng, hoa, mộng…tất thảy dường như dồn chật lại trong thơ. nói như nhà thơ Nguyễn Chiến : “Anh là con thi mã/ kéo niềm mơ ngang trời/ chớp chao đời cánh mỏng/ thả thơ vào mênh mông/ anh là con ngựa bạch/ trắng từ đầu đến chân” (Ngựa-Nguyễn Chiến). Còn nói như nhà thơ Phùng Tấn Đông là : “ Trong túi của người những chiếc vé mùa thu không còn hiệu lực tiếng còi tàu vừa rúc một chia xa/  biết làm thế nào đây hơi thở người vẫn chộn rộn như lần hẹn đầu tiên bước chân dù chậm hay nhanh người vẫn không đúng lúc “ (nơi phải đến-Phùng Tấn Đông).

Nụ hôn liều trao em

ba mươi năm khát mãi

Đó là  hai câu thơ “đinh” của bài, thật giản đị nhưng rất ấn tượng. Gợi một cái gì đó thăm thẳm hồn người, ray rứt đoạn trường của thứ tình trai tuổi mới lớn nhưng mải miết vô tận đời người. Cái hay kì lạ của nó ở chỗ chẳng mông lung ẩn dụ gì, rõ ràng nhật nguyệt. Cũng chẳng “xảo ngữ” mặt ủ mày chau, kiểu là : “Nổi trời con mắt điêu linh/ đem men cả gió ủ tình xiêu cây/ đang cơn nước ngược sông đầy/ trăm năm có dựng một ngày tràn ly” (Thơ tình ghi dọc Quảng Nam- Nguyễn Đức Dũng). Hoặc là : “Cội vàng hoa quên tắt mình trong tối/ nên em khát mà mưa chẳng xuống/ phúc âm từ lời nguyện cũ bay lên” (Sinh nhật anh- Phương Dung). Mọi nỗi khát (khát thơ, khát tình, khát sống, khát danh…) của những nhà thơ đều ở những cung bậc khác nhau, cách thể hiện cũng khác nhau. Âu đó cũng là lẽ thường tình. Tựu trung cũng chỉ tạo nên những câu thơ hay, cố gắng  “để đời”.

Với tôi, bài thơ dừng lại ở đây là vừa . Còn kết thúc như : “Mùi tóc em bay xa/ để tình anh mất hút” cũng chỉ là niềm nuối tiếc nhớ nhung kéo dài âu không hay lắm. Đôi khi có vẻ “sáo” và “non” (thiết nghĩ vậy, chẳng biết tác giả có trách cứ gì không ?). Đoạn tuyệt (một cái gì đó) cũng là tuyệt bút vậy.

Lan man đọc trong tập miền lá trở còn nhiều câu nhiều bài đọc “được”, “chưa phải nói là độc đáo, nhưng thật đáng mừng và trân trọng” (Nguyễn Hàn Chung). Chẳng hạn : “lan man dưới mấy tầng rêu/ vô ngôn tượng đá hắt hiu gió ngàn” (cảm xúc Mỹ Sơn), “ngất ngưỡng tiếng khà rung vách núi/ con đường hun hút lưng mây/ bát ngát đồi nương biến ảo” (lãng đãng Đak Ruồng), “mùa xuân điểm xuyết phía hương em/ngón ngón non tơ xanh lá” (lắng xuân).

Thơ là hơi thở của mỗi người. Thơ cũng là đời sống. Mà đời sống luôn luôn biến chuyển, mới mẻ và sinh động. Đã mới thì cần mới nữa. Đã hay thì cần hay nữa. Âu đó là những yêu cầu miên viễn của độc giả. Hy vọng gặp lại Thảo Nguyên ở những chân trời xa hơn.

KHÚC QUÊ


Nguyễn Nhã Tiên

Em va gàu vào giếng khuya gọi ngàn đêm thức giấc

Bếp lửa thức xa xôi rực đỏ một góc trời

Ngọn gió thức ngoài đường chập chùng cung bậc

Trừ tịch thức gọi người đủ mặt lứa đôi

Đập vỡ thời gian hoa lửa rơi rơi

Mọi ẩn nấp xô bật tường rêu nhú lời cỏ biếc

Bấc se se ngập ngừng ngoài sân đợi tết

Nước tràn mái , tràn thùng, em gánh tiếp niềm tin

Giếng ngời ngời gương mặt của đêm đêm cháy sáng

Đêm giũ mình bóng tối

Những cát bụi không còn nơi ẩn trốn

Hạnh phúc từ ngực người nhuộm thắm cỏ hoa

Cả ngàn nhà, nước từ giếng chia ra

Cười nói dội vang vang hồi âm của đất

Có một thiên đường đêm ba mươi rất thật

Trừ tịch chia đều mọi ngõ trầm hương

Khói bay trong nhà, khói bay hàng hiên về em nhé

Giao thừa đang điểm

Có một tiếng gàu bỏ quên ngoài giếng

Chạm vào tôi ngân mãi khúc quê mùa !

Thói giả

Nguyễn Hàn Chung

Một thằng cu li  da màu mạt rệp

sau một ngày quần quật với núi công việc thổ tả

trút vào cuống họng dăm li rượu rẻ

làm chuyện đực cái với một mụ điếm màu da khác

câm như hến

ngôn ngữ động tác gấp gáp

sao gọi là làm tình

tình đâu mà làm

hỡi các nhà thơ phù phiếm giả tạo ?
Một bà sồn sồn bệ vệ đi xe đời mới

sau khi phưỡn bụng

làm chuyện đực cái với một chàng điếm tơ xa lạ

đang chơi game trên cella phone mê mẩn

mặc bà ta nhông nhổng rú rít hít ha

sao gọi là làm tình

tình đâu mà làm

hỡi các nhà văn cao sang quyền quý?
Sẽ rất chính xác

nếu dùng từ ngữ nào

thưa quý vị .

Tôi không biết

nhân danh cái gì người ta kiêng kị  sự thật

khi ai cũng cao đạo  rêu rao thích trung thực ghét giả dối

17/01/10

Chuyện phía sau bài thơ “Tình già”

45 tuổi, Phan Khôi viết bài thơ “Tình già”, trong đó câu “Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau” là nói đến một chuyện tình ngang trái của ông hồi 21 tuổi.

Ông Phan Khôi và người vợ chánh năm 1956 tại Hà Nội. (Ảnh tư liệu của gia đình).

Năm 1908, vì tham gia chống Pháp, Phan Khôi bị bắt giam tại nhà lao Hội An, lúc ấy ông chưa tròn 21 tuổi. Tại đây, ông đã lọt vào “mắt xanh” của một thiếu phụ trạc tuổi ông, vợ một võ quan hàng tứ phẩm trông coi nhà tù. Thấy ông là một thanh niên khí phách, vào tù chỉ vì tội tham gia lật đổ chế độ cai trị của thực dân Pháp, còn mình làm vợ viên võ quan này là do sự ép buộc nào đó, bà đem lòng yêu người tù nhân trẻ tuổi.

Một hôm, một bạn tù trao cho Phan Khôi cái gói lớn có mười miếng trầu têm kiểu Huế, mười miếng cau tươi bửa để dính nhau, thêm mười miếng vỏ chay và mấy chùm hoa sói. Ông hỏi thì người bạn tù bảo là của bà Ch. nhờ đưa cho ông. Ông lắc đầu: “Tôi có biết bà ấy là ai đâu, tôi không nhận”. Người đưa cái gói kể đầu đuôi: “Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông Ch. Tôi được bà Ch. tin cậy đem tình riêng ngỏ với tôi. Bà nói bà thấy thầy thì thương lắm, bữa nay gửi vật nhỏ này làm tin, mong ngày khác thầy cho bà gặp mặt để nói chuyện”.

Nghe vậy, ông Phan không biết nói sao, cũng nhận gói trầu cau, nhưng thầm nghĩ: “Mình mà dính líu vào bà này, nếu chồng bà ta hay được, cũng khó cho mình. Khi họ là người có quyền thế trong tay, mà mình chỉ là một tên tù!”.

Bữa nọ, ông Ch. sai lính vào nhà lao hỏi thầy đội coi trong đám tù nhân có ai viết chữ tốt thì lấy một người ra nhà viết câu đối cho ông. Trong lao đều nhất loạt cử chàng tù nhân trẻ tuổi Phan Khôi. Khi ông Phan theo lính đến nhà ông Ch. thì đã thấy bày mấy vuông lụa đỏ và một nghiên mực lớn. Ông Ch. ngồi trên sập giữa nhà, người to lớn, mặt đen, mũi to, trông khoảng chừng 50 tuổi, hất hàm chào người tù. Một thiếu phụ còn trẻ lắm, người trắng trẻo, khuôn mặt trái xoan, cổ quấn khăn nhiễu điều, ngồi bên kia sập.

Ông Ch. hỏi người tù có biết uống rượu không, rồi quay sang bảo thiếu phụ vào trong đem ra một chai rượu thuốc, rót đưa ông Phan một cốc đầy. Lúc ấy, ông Phan mới biết thiếu phụ chính là bà Ch.

Trong khi người tù viết, ông Ch. cứ ngồi nhắc chừng, chữ này viết thế này, chữ kia viết thế kia làm chàng trai muốn nổi cáu. Thiếu phụ chừng như biết ý, nói cùng chồng: “Tôi xem người này viết thạo, ông cứ để cho người ta viết tự do, khỏi phải nhắc nhở!”. Ông Ch. gạt ngang: “Mình nói lạ! Câu đối lụa ít tiền lắm sao!”. Thiếu phụ không nhịn được, cãi lại: “Nhưng có ai làm hư của ông đâu, ông cứ kèm một bên thì ai mà viết được!”…

Sau lần đó, một hôm, nhân chồng đi việc quan, bà Ch. sai người tin cậy vào nhà lao mời chàng trai tù nhân ra cho bà gặp, có người tâm phúc cảnh giới bên ngoài. Bà tiếp chàng trai trong một buồng xép. Ông Phan ngồi trên chõng nhỏ, bà ngồi ghế bên cạnh, đặt tay lên vai ông, dịu dàng hỏi: “Chớ anh làm chi mà họ bắt tù anh?”. Ông Phan trả lời một câu có vẻ bâng quơ mà hóm hỉnh: “Nội một việc tôi dám đến đây cùng bà là đủ mắc tội rồi!”. Vừa lúc ấy, người cảnh giới giơ cao hai tay làm hiệu. Bà Ch. biết chồng đã về, vội mở cửa cho người tình xuống bếp và dặn cứ ở đó một lúc. Nhưng ông Phan nghe tiếng nói ồ ồ của ông Ch. trên nhà, vội mở cửa bếp, chạy một mạch về nhà lao.

Từ đó, hai người không có dịp gặp nhau nữa. Không biết có phải ông Ch. do mang máng biết không, mà quản vợ rất kỹ… Không biết làm sao gặp được người mình yêu, bà nhờ người tin cậy nhắn ông Phan kiếm cớ đi ngang nhà bà để bà trông thấy.

Mấy tháng sau, ông Ch. dọn nhà sang ở chỗ mới cách nhà lao không xa, hai người trông thấy nhau nhưng không gặp được nhau.

Một bữa, ông Phan nhận được thư của bà Ch. Đó là lá thư đầu tiên mà cũng là lá thư cuối cùng. Trong thư, bà cho biết sắp tới bà đi chữa đồ nữ trang, mong gặp ông tại nhà thợ bạc. Ông Phan cũng đến nhà thợ bạc nhưng người đông quá, hai người chỉ nhìn nhau, không dám hỏi nói gì. Chợt ông Ch. cũng lò dò đến đó, mới thấy bóng ông ta xuất hiện trước cửa, ông Phan đã vòng ra ngõ sau đi một mạch.

Không ngờ đó là lần cuối cùng ông Phan thấy người thiếu phụ đa tình. Vài tháng sau, bà lâm bệnh, được đưa về Huế điều trị một thời gian ngắn rồi có tin bà từ trần. Ông Phan chợt nhớ lại câu bà viết trong thư độ trước như một lời trăng trối: “Yêu nhau mà không được gần nhau, thôi thì sống để dạ, chết đem theo!”.

Chuyện xưa, Phan Khôi đã trút tâm sự trong bài “Tình già”, nhưng trong đó có một chi tiết hư cấu là “tình cờ đất khách gặp nhau. Bởi thiếu phụ ấy đã chết khi ông Phan còn ngồi trong lao.

THANH MINH
(Theo sách “Phan Khôi, tiếng Việt, Báo chí và Thơ Mới” của Vu Gia, xuất bản năm 2003).

VỠ…

LÊ THỊ ĐIỂM

“Choang” !

Pha lê vỡ

tan tành !!

Gom đem tái chế lại thành pha lê

Vầng trăng buồn nỗi mây che

U u một cõi

mê mê chốn trần …

Mây tan trả nụ cười rằm

Cho nhân gian múc trăng vàng đổ đi

Tình em !

nào sánh pha lê ,

chẳng linh dịu tựa trăng quê đêm rằm

Một đời gìn giữ , chuốt, chăm

Đánh rơi,

khuyết nẻo vọng âm còn gì ?!

.

HẬU CHÂN DUNG NHÀ VĂN VIỆT NAM

Nguyễn Hàn Chung

Bắt chước Xuân Sách phúng họa

1

Lên xanh nói hộ phù du
Miếng không gồng gánh oán thù sao cam
Gượm làm ra kẻ chơi ham
Mà lòng canh cánh mối hàm oan xa

2

Kiếm sắc chém sâu buồn tướng
Sinh vi vàng lửa may thời
Đem sửa chữ tài ra sướng
Sang người hái trái văn tươi

3

Cầm chịch văn đàn nỏ có roi
Bầu trời giàn mướp đã phôi phai
Mặc phường châm chọc kê, phang, xóc
Ông cứ khum khum được đứng hoài

4

Ngồi xổm ghì cột mốc
Trước lằn ranh biên cương
Mẹ đào hầm bằng cuốc
Anh đào bằng thê lương

5

Cái thời xa vắng ngông nghênh
Lập lòe thôi đã bồng bềnh nước non
Lên trùm văn hóa yêu ngôn
Sắp lên một bảng dở ngon lộn phèo

6

Đò Lèn sóng đã nguôi im
Miệng ,trôn nhan nhản há tìm hà phương?
Đánh không thức nổi miếu đường
Cuối đời rổ rá văn chương vậy cà !

7

Mở quàng Hội ngộ văn chương
Văn âm cực thịnh văn dương héo đời
Van người đừng bỏ cuộc chơi
Bấy nhiêu là gã trổ trời lấy đâu ?

8

Đọc văn ngẫm anh nói sảng
Đọc thơ nghĩ anh nhị trùng
Đọc láo mấy bài thơ phản…
Biết anh cũng có anh hùng

9

Dám dang tay tát người thơ
Ngồi đan áo giấy bên bờ sông Thu
Con nòi tuồng tích anh thư
Chơi toàn bọn giấy vụn như Lý, Bùi

10

Không màng hai nẻo đế kinh
Về quê vung vít lời bình xỏ xiên
Thơ thường đá tạt ra biên
Dấu chân qua trảng qua biền vẫn đau

11

Tẩy trần dấy động tháng tư qua
Ẳm giải buồng văn cứ nhẩn nha
Cố quốc xa xăm hồn một trạm
Phê chùm bên nách cố lu loa

12

Tên thì hide bớt vần iêm
Thơ thời huỵch toẹt từ l… đến mông
Tân hình thức cựu tồng ngồng
Bao nhiêu là gã lông bông dẻo mồm

13

Nàng tình rỗng thiệt tiên tri ?
Cãi chầy tận mạng chẳng gì bằng cu
Mười năm dị mộng có dư
Bỗng nhiên ngỏng dậy lu bù ngoa ngôn

14

Ban đêm chế tạo thơ ca
Ban ngày thách đấu với nhà Đ Kh…
Buôn làng rách đến… xong phim
Sao còn lấn bấn đi tìm đòn châm ?

15

Trẻ trai khuất sóng dòng Seine
Retire bỗng nhóng mình lên NewVietArt
Bao đời thơ thủi lê la
Từ nay có bãi tắm gà sướng chưa?

16

…cóc thì tung tuốt mây xanh
Cường , ngoa mà giảng rõ rành y như…
Ngươi đừng toan tính phần thư
Tường internet lửa hư huyễn rồi

17

Còn nguyên đất nước đứng lên
Đứng lên rồi lại trùm mền nhéo nhau
Dù ngày cởi trói qua mau
Ít ra cũng ráng vài câu thỏa lòng

18

Bần ly trắng đến xanh trời
Khải hoàn ca xót người rơi thiên đường
Một đời đau điếng mù phương
Lối sân góc phố con đường thót tim

19

Xưa ghiền ông Tố ông Xuân
Câu thơ con nít gánh phần cao sâu
Giờ chưa già quắp cần câu
Máu thơ đã biến ra màu chân dung

20

Bao nhiêu năm những cu Tai
Ngủ ngoan lưng mẹ dài dài răng ông ?
Phũ phàng vung chỉ cách không…
Chắc ai rệp chắc ai rồng mãi đâu!

21

Làm thơ kiếm tiếng hơi lâu
Thôi thì thơ đến từ đâu họa hoằn
Quay đầu về núi dung dăng
Lưỡi cùn đã có hàm răng dở trò

22

Người mang Thiên sứ cứu Marie
Một cuộc hồn tây cởi thả vì…
Sập quán Tala.. buồn một phút
Cười hoài khinh tất đám tu mi

23

Tân thư đẻ trong giấy vụn
Nét văn móc máy chuyện đời
Phải xin lỗi cả loài chó
Đồ rằng chỉ một ông thôi ?

24

Con cu ngỏng ráo cuộc tình
Câu văn thấm đẫm mùi tinh lộn kèo
Các nàng yêu nữ đáng yêu
Có gì bí mật hãy mail xuống mồ

25

Một thời mở miệng cắt bê tông
Xáo chộn mà đau đáu một vần
Mượn xác anh hùng la ỏm tỏi
Bao giờ la hán cũng qua phân

26

Văn : phong hàm chánh tổng
Thơ : đen trắng một màu
Chân trái nhón lề phải
Chân phải biết về đâu ?

27

Nẻo về  của ý hay thơ
Rêu xưa Phương Bối mắt mờ Làng Mai
Đàn tràng giải ngót oan sai
Sao chuông Bát Nhã rạc rài tứ tung

28

Kể từ lề trái văng tưng
Hoa anh đào cuối mép rừng lặng căM
Lạc đường được bấy nhiêu năm
Còn hơn héo hắt mù tăm lối về

Có Vẻ

Nguyễn Hàn Chung

Em có vẻ như nắng

Khi yêu phùn như mưa

Một tiếng em tằng hắng

Cả đời anh tưa lưa

Tiền có vẻ như thiếu

Tình có vẻ như thừa

Say yêu đến khàn chữ

Mà dẫm toàn vỏ dưa

Nếu em không có vẻ

Sống liu hiu tới già

Bao nhiêu chàng thi sĩ

Lấy gì mà viết hoa

Em có vẻ như nắng

Khi yêu mềm như sương

Một chút em léng phéng

Cả đời anh tang thương

Bao ai đang có vẻ

Yêu không bằng trái tim

Câu thơ như có vẻ

nhoi ra những tị hiềm

Em mà không có vẻ

Ngay thật như thói thường

Câu nói dối có vẻ

Cũng tưởng là văn chương

1/2010

MÙI MÍT CHÍN TRONG VƯỜN

Nguyễn Tấn Sĩ

Anh làm rêu xứ lạ

Xanh sông Tiên một lần

Tình hỗn mang như  đá

To nhỏ buồn như  nhau

Nằm thức một đêm thâu

Hồn xuôi mà nước ngược

Hỏi ai về Tiên Phước

Có thất tình như  ta ?

(…rất thật tình như  ta ?)

Mùa xuân  chưa  đi qua

Lòng đà neo đậu lại

Dâu xanh người chưa hái

Thèm, nên mớ suốt  đêm

Muốn làm đá ngõ  em

Trượt chân ôm nỗi nhớ

Chạm vào rêu đang thở

Thơm hương mít trong vườn

Ôi mùi hương, mùi hương

Gọi em: Hà,Châu,Lộc..

Đi xuôi dòng nước ngược

thương bao Cẩm… bao Kỳ…

Những tường đá Đường thi

Em là tiên thưở trước

Chỉ một đêm Tiên Phước

Cứ ngỡ mình…thanh niên

cuối năm ăn cá một mình

nguyễn hàn chung

con cá  rô đồng bị nhốt vào tủ lạnh

lâu ngày ương cứng

mùi tanh tanh

đón xuân  một giáp tí năm tuổi cọp

nhai cá nhá xương

còn nguyên mấy cái vi xù

so đũa hơi lâu

gắp  khựng vào quá khứ

càng tanh càng mút

không buồn mượn rượu bán mùi

ngày cáo lão ly quê

rưới vài giọt nước mắm thum thủm

để dành từ đáy hành trang nhập cư

chùm vẩy vàng rụm

chóp chép bùi bùi màu lúa đương đòng tháng hai

xương mắc vào cuống họng

khạc  nỗi niềm tuyết rơi

đón xuân một giáp tý năm tuổi cọp

nhai nhá mỏn dần

không có tha hồ chén bạn chén bầy

trơ tráo cái ly không

cơn cớ gì

không có một chút men nào

hết ho khan lại sặc ?

Gaveston Texas  tháng 12/2009

CHƠI TRĂNG MỘT KHÚC THU BỒN

Thuyền ngược dòng Thu

Nguyễn Hàn Chung

Chúng tôi tụ dưới chân cầu Vĩnh Điện đợi lúc trăng vừa nhô lên khỏi ngọn tre phía hạ lưu  là lên đường .Chiếc động cơ mấy mưoi sức ngựa gặp  lúc được nghỉ ngơi mừng rỡ nhường chỗ cho hơn mười mấy tay chèo bập bềnh quẫy nước .

Thuyền chậm chạp rời bến ,những cánh tay lâu nay chỉ quen cầm phấn, cầm viết ,nay cầm thử tay chèo thấy nó vương vướng thế nào.Lúc đầu những tay chèo nghiêp dư ấy còn hăm hở chèo chống, hô, hò dô ta loạn xạ nhưng chỉ một lúc sau cường độ nhịp chèo lơi dần chỉ nghe những tiếng thở hổn hển ,tiếng trống đánh tinh tang nơi lồng ngực.Nước đang lên, chảy khá xiết,hơn mươi cánh tay lẻo khoeỏ ấy thì có nhằm nhò gì. Thuyền ngãng ra chợt quay đầu .Cô lái đò khởi động máy, con thuyền chững lại rồi chồm lên ,các tay chèo nghệ sĩ hầu hết đều nằm vật ra khoang  nghỉ cho lại sức .Thuyền đến bến sông gần chân tháp Bằng An thì dừng lại,ở bờ sông trèo lên ngọn tre vạch lá  nhìn lên tháp Bằng An giống như một dấu chấm than mà ai đó vô tình viết ngược .Chợt nhớ câu thơ của  người bạn văn từ thuở ấu thời “Tháp rất cũ mà muôn đời vẫn lạ -Dấu chấm than lồng lộng bên trời… “*

.Ở một huyện phía bắc của tỉnh Quảng Nam như  Điện Bàn không có một quần thể di tích Chăm nào điêu tàn một cách tráng lệ như  Mỹ Sơn của  Duy Xuyên chỉ có độc một cây tháp Bằng An cô đơn trơ trọi với những viên gạch rêu gầy mòn nhưng đấy chính là một chút nỗi niềm cố quận “ Qua quê mẹ không ghé về thăm mẹ – Con đứng bên nầy sóng vỗ rát thời gian “ của những người con vì bất cứ một lý do gì đó đã phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để ra đi .

Thuyền rời bến sông ngược dòng chảy về với thượng nguồn.Hai bên bờ sông rải một thảm dưa cơ man là trái ,trái già , trái trẻ lủ khủ chồng chất. Co người biết bảo qua khỏi cánh đồng dưa là  gặp  mộ cụ Tổng Đốc Hoàng. Người danh sĩ  của đất Gò nổi ấy đã từ biệt mẹ già vợ yếu ngàn dặm quan san trấn nhậm thành Hà Nội ,giặc dữ chiếm thành sức cô, binh bại đã lấy cái chết đáp đền quê xứ. Tấm gương mất thành thành mất mất theo thành *** đã ghi vào thanh sử  một mảnh hồn trung liệt .Xế lên hơn chút nữa là quê cụ Trần Cao Vân người từng thấu cảm lẽ huyền vi trong Trung thiên dịch .Người đã cùng với cụ Thái Phiên mưu đồ phục quốc mà mưu  sự bất thành .Chợt nhớ hai câu thơ của người nghĩa sĩ  Nhượng Tống “Người dẫu chết đi lòng vẫn sống- Việc dù hỏng nữa tội là công “

Thuyền đi vào một khúc sông hẹp nơi có một cây cầu tre bắc ngang sông.Không biết cây cầu mảnh mai thế ấy làm sao có thể trụ lại qua một mùa bão lũ chứ đừng nói lâu la gì .Mới thấy cụm từ “cầu tre lắt lẻo”rất hiện thực chứ không phải là một hình ảnh sáo mòn môt chút nào   .Cây cầu tre ấy làm sao có thể so với  cầu Câu Lâu.cầu Vĩnh Điện chứ chưa dám so sánh với cây cầu hiện đại nào khâc,song chính cây cầu tre ấy đã níu giữ  những người con  Điện Bàn trên mỗi bước đường luân lạc tha hương không bao giờ quên mảnh đất như chiếc nôi giữa bốn bề sóng nước .

Thuyền qua một khúc ngoặt nữa rồi trườn ra cửa lớn .Bây giờ trăng đã lên cao chiếu ánh sánh rờ rỡ xuống trường giang, chúng tôi neo thuyền lại bày loại rượu quê nấu củi ra giữa khoang thuyền .Nước từ sông lớn nghi ngút bốc hương .Hương bèo ,hương rong , hương cỏ ,phả vào mặt đến mát lạnh .Một anh bạn nào đó không rõ quả quyết anh đã đi nhiều xứ xang quê người  nhưng không có một cái phòng lạnh  của bất cứ  khách sạn năm sao nào mát bằng khói sóng trên sông Thu Bồn những đêm trăng hạ như đêm nay.

, Đã có trăng ,sông , rượu ,khuya về bát ngát tất nhiên phải có thơ thôi .Thôi thì thơ ca kim cổ ,thơ người ,thơ mình đều được cái giọng Quảng nam quê mùa khí phách tuôn ra lai láng .Ngâm rồi lại bình , bình rồi  lại cãi ,thách đố, chòng ghẹo ỏm tỏi vang lên náo động cả một vùng sông nước .Cả những câu hát Quảng đời nảo đời nao thất truyền bí hiểm kiểu Chuồn chuồn đậu ngọn roi cày –Anh ở xóm dưới  vác chày đi lên hoặc Tiếng đồn Vĩnh điện, La qua – Không chồng mà chết hết ba mươi người- Cụ bà  nghe nói thất cườii – Nên lấy ông cụ chín mười năm ni“ v..v đều được tận dụng  thuật, trích , bình ( tất nhiên là có thêm bớt ) gầy được những trận cười hào sảng.

Đêm càng về khuya trăng càng sáng hay là cảm thấy thế  cũng không biết nữa.Lanh run mà chưa ai muốn thả thuyền trôi về .Mới ngộ ra một điều mà chẳng mấy khi nhận ra dù đã là người lưu lạc :”Bé tí ở quê chẳng được tích sự gì ngoài chuyện thả diều, bắt dế –Trai trẻ dập dờn con sóng xa cứ tưởng biếc xanh là bể-Già cỗi về quê còn nước nôi chi , nhắc chuyện cũ vắn, dài sông lệ-Thường khi tát cạn đời người. mới ngấm điều giản đơn như thế**** “Nhưng khi đã ngấm rồi  thì hà cớ gì lại chẳng quay về“với mẹ ta xưa –miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương”để được đi ngược dòng Thu mà hưởng thú thanh tao  sông nước quê mình .

nghịch âm của tuổi

nguyễn hàn chung

1

giọt mưa đen hối hả

bức tường câm có người đàn bà ngồi dạng

em bé  thò lò mũi xanh

phô bựa răng không ai  ngó nghĩ

mày mò câu ma mị  câu búa xua câu tùng xẻo câu vòng vèo

ánh đèn  mờ hiu không soi tỏ mặt cô gái ăn sương

vòng vây kẽm gai hào nhoáng

2

lịu địu chiếc lá rừng phong thu vàng

mắt em lên cơn hậu sản

thi sĩ thiên tài hú gọi  hồn ma

thậm thọt  bóng mình đổ nhoài dưới đất

những cây gai nhọn hoắc nấp kín

kẽ nhánh hồng đen

nhát câm không dám hái

nằm bệnh

thơ hay đâu chẳng thấy

chỉ thấy mù tăm cơn cớ lâm bồn

không có quảng trường đen

chỉ có pháp trường đen

người hát tụng ca còi hụ

3

so chày buộc chặt quằn quại thâu đêm

không dám cởi thả tung hê cho nó sướng

tôn ti tàn ruỗng

buộc mẹ đái không qua ngọn cỏ đã đành

còn em ,còn em ,còn em…

sao không tưới lên cầu vồng bảy sắc

4

mót hết muộn phiền độc dược

thả tinh anh vào hư huyễn không rời

chúng nó diễn tuồng trên ấy ngoài kia

chiều  võng mạc

dự phần im thin thít

mặc bọn  bưng bợ chầu rìa  cửa hậu

người xăm xúi về một phương lạnh tanh

5

thời mới lớn

mê tít nạ dòng đít teo vú lép

câu thơ  trinh nguyên  tận hiến

buổi già khèn còn luẩn quẩn vú mông

viết thế nào cũng tới

6

vén bức màn áp đặt  ngoi ra

vẫn nỗi niềm bảo ban của tuổi

manikin hiện đại nào biết yêu mà không sản giật

huống hồ em

bầu trứng giống nòi

đẻ đái thế nào trống huơ trống hoác

anh tính  vùi  tàn khuya  vào cuộc

họa may còn rêu xanh chốc lát

12/12/2009

Hai Đầu Nỗi Nhớ

|

Nguyễn Tấn  Sỹ


Nam phước rạng sáng 13/12/o9
Gởi KHOA và BÌNH

gieo vần thơ giữa mênh mang
xe về quê mẹ áo quan lạnh lùng

rớt hai câu giữa vô cùng
hai thằng bạn một quê chung, trở về…

lối nào là cõi hôn mê
lối nào của gã nhà quê cơ cầu

vẫn là người Quảng dáng nâu
vẫn là nhân loại bể dâu tim mình

gọi KHOA, thảng thốt gọi BÌNH
trời quê rét ngọt tôn vinh nỗi buồn

cạn nào ! một cốc rượu suông
nửa đổ cho đất nửa hong cho đời

tau còn bận chuyện đầy vơi
bạn rong ruổi tiếp cuộc chơi vô hình

thêm người ở cõi vô minh
là thêm lần nữa cho mình nỗi đau…

Bài phương xa cho hai bạn Khoa & Bình


Nguyễn Hàn Chung

đất mềm không Đặng Ngọc Khoa

đất cứng không Nguyễn Trung Bình

các bạn đi trong  bời bời  quê nhà hạnh phúc

đất Hòa Vang đất Duy Xuyên

cỏ lấm cứt bò hăng hăng

dáng nâu phèn rêu  thum thủm mùi thơm  gốc rạ

có đi đâu mà trái tim nhà thơ  ngừng đập

lúc con chim kêu buồn trăng vẫn sáng lung linh

thấy cái dáng búi tó trên báo Thanh niên

đọc câu thương  bao sân chuyện người chuyện đời chuyện đói

thấý cái đen sần trên Tiền Vệ là thấy bạn thấy miền quê nhà mây trắng

ung là cái gì mà mỗi tuần bạn ta mỗi đi

ung là cái chi chi đời người hữu hạn

cởi cái ung ra  đi ngồi quanh chiếu hát bài vong ca tưởng bạn

đất mềm không Đặng Ngọc Khoa

đất cứng không Nguyễn Trung Bình

xứ này  đi ai người vuốt mắt

đất cũng là đất khác

cỏ cũng là cỏ khác

tiếng cũng là tiếng khác

các bạn đi trong bời bời hạnh phúc quê nhà

đừng ai khóc rấm rứt khóc to lên

cho bạn ta trùng phùng với đất

song chẳng mai tiếng gà nhắc qua đêm hối hả

mình buộc phải chạy về phòng khép cửa đón bình minh.

Vâng chúng ta bốn phương  ngồi đợi

các bạn  về phòng khép cửa đón bình minh

Lầu cây Khế  nghe tin Đặng Ngọc Khoa và Nguyễn Trung Bình mãi mãi ra đi

11/12/09 Houston Texas

* chữ in nghiêng là thơ Nguyễn Trung Bình

\

lục bát lâu rồi

Nguyễn Hàn Chung

CÃI LÝ VỚI EM

`                                                                   

Dại gì cãi lý với em

Thua là thua chắc  lại thêm… giận  hờn

Về đi, lý với cô đơn

May đâu  phần thắng nghiêng hơn phía mình

Hơi  đâu cãi lý với tình

Tình đâu có lý mà anh lắm lời

Chỉ cần chạm nhớ lên môi

Bao nhiêu lý lẽ tàn đời , hiểu  chưa?

Thua về  cãi lý với mưa

Cớ sao  phần thắng bao giờ cũng…thua

NGÀY  VỢ VẮNG NHÀ

Ngày  vắng vợ, thật thần tiên

Không ai trách, chả ai phiền nhiễu ta

Thích thì cứ việc xông pha…

Không ai cản, chẳng ai ngoa ngoắt lườm

Ngày  vắng vợ, khỏi  chán cơm

Mấy em hàng phở mừng rơn cả người

Rủ rê, đàn đúm tới nơi

Khỏi lo mang tiếng chịu lời …quá quen

Ngày vắng vợ , múa dung dăng

Không ai bới chuyện lăng nhăng thuở nào

Không ai tra gạn vì sao

Nửa khuya còn nối mạng vào email

Ngày  vắng vợ, rất… chuông reo

Nói vung chẳng sợ câu nào hớ hênh

Còn ai  giám sát mà kiêng

Nâng ly hào sảng qua liền mấy chai

Thế mà không biết vì ai

Người như nắng quái mưa mai hớp hồn

Cuộc vui  tàn  lúc sương tan

Bạn không, hồ cạn, đèn tàn trêu nhau

Những đời vắng vợ mai  sau….?

Tâm sự với em gái

Dẫu ai  cũng chỉ mất suông

Riêng em mới thấm nỗi buồn mất đi…

Người đời một thoáng ướt mi

Còn em kiếp mất lấy gì bù đây ?

Buộc nhan sắc sống qua ngày

Em cầm cự với đắng cay, mệt nhoài

Tự cho cái số trần ai

Bắt hơ hớ đứng ra ngoài mé hiên .

Mất còn là lẽ tất nhiên

Người ta bịa chuyện cữu tuyền lừa nhau

Em đừng niệm mãi một câu …

Ích gì, khi tóc trên đầu còn xanh !

Cuộc này em hãy nghe anh

Muốn mong giữ tấm chung tình bền lâu

Hãy đi bước nữa,qua cầu

Mới yên lòng kẻ nằm sâu dưới mồ .

Sợ

Sợ nghe tiếng hứ rõ dài

Sợ nhìn cái dáng trang đài lạnh tanh

Sợ thuyền quyên  ức một mình

Mặc cho cái gã đa tình chèo queo

Người ta vụng chống khéo chèo

Anh không biết nói lời điêu lấy lòng

Trộm em tí toáy… ngỡ xong

Nào hay gánh một cõi lòng đá đeo

Sợ đôi mắt ngấm mưa chiều

Sợ bờ môi mím cánh diều ủ ê

Sợ mùa nụ bớt sum suê

Sợ con sóng khác vỗ về bến sông

Biết rồi ,sợ chớ sao không ?

Lạ chưa ! thấy một đường cong lại …là..

Tưởng khúc

Nhớ trung niên thi sĩ Bùi Giáng

Người điên ngất ngưỡng Sài gòn

Tấm xương châu chấu chuồn chuồn trổ bông

Rượu hoang rớt hột phiêu bồng

Tay vò đến chín cõi không sắc rồi

Ta bà tá hỏa rong chơi

Cuộc nghiêm mật rất rụng rời nỗi em

Người điên cho kẻ tỉnh thèm

Con vi trùng cũng chết chìm vì yêu

Thiếu ái khanh trẫm sống liều

Ái khanh thiếu trẫm tới tiều tụy xương

Người điên khát lá hoa cồn

Một con mắt lén hoàng hôn thức thầm

Màu hoa tím cả đêm rằm

Khúc lầu xanh động đến lầm than tôi

Mộng ban đầu biển xanh chơi

Biêt còn đánh giấc đã đời cùng ai…

Tự thức

Ngóng theo hút bóng vợ …người

Lạ chưa sao lại nói cười không yên

Trời mà bứt chỉ xe duyên

Biết đâu , cũng có kẻ ghiền mốc meo

Vợ người quả thực đáng yêu

Nhìn như trái chín thơm treo mút giàn

Bao giờ ta cũng héo hon

Trước bao ẩn số chon von diệu kỳ

Nếu như cái vẻ nhu mì

Rớt về ta đạn bom thì…hiểu không ???

Muốn cho biển lặng trời trong

Thì thôi gửi gió bế bồng ,thế thôi

Phải chăng có những kiếp người

Suốt đời lấy cái xa xôi làm gần

Buổi ra mắt tác phẩm Sống Với Thời Quá Vãng của nhà văn Phan Xuân Sinh tại Houston

By HoangHac • Nov 24th, 2009 • Category: Giới Thiệu Tác Giả & Tác Phẩm

PXS BookPremiere098Chiều thứ Bảy, 21 tháng 11 2009, trong không khí ấm cúng, thân mật và tràn đầy tình văn nghệ, buổi ra mắt tác phẩm Sống Với Thời Quá Vãng của nhà văn Phan Xuân Sinh, một cựu cư dân Boston, đang sống và sáng tác tại Houston, đã được tổ chức tại Café Bistro.

Buổi giới thiệu do sự phối hợp tổ chức của các hội Quảng Nam Đà Nẵng tại Houston, Dallas và thân hữu văn nghệ của tác giả như các nhà văn, nhà thơ Ngu Yên, Vĩnh Tuấn, Phạm Quang Tân, Lương Thư Trung v.v..

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn có lần đã phát biểu trên đài VOA về Phan Xuân Sinh: “Nhưng đọc các truyện của Phan Xuân Sinh, người ta có cảm tưởng như kẻ ngồi gỡ bỏ những cuốn băng, nhìn lại các vết thương. Các vết thương có thể đã lên da non, đã lành, nhưng nhỏ vẫn để lại những cái sẹo, lớn là dấu tích mất đi một phần thân thể. ”

Tương tự, nhà văn Trần Doãn Nho đã viết trong lời tựa Sống Với Thời Quá Vãng:“Buồn hay vui, hy vọng hay tuyệt vọng, văn chương vẫn là phương tiện chuyên chở cuộc sống của con người. Sống với thời quá vãng phản ảnh phần nào những hiện thực sắc nét của hiện thực qua ngòi bút trung thực của một con người đã trải nghiệm cuộc bể dâu với nhiều biến khúc bi thương của đất nước, của xã hội và của số phận cá nhân.”

Sống Với Thời Quá Vãng là chiếc gương kính thời gian, qua đó, một Phan Xuân Sinh vào tuổi 60 thâm trầm có cơ hội sống với một Phan Xuân Sinh của thuở 20 tràn nhiệt huyết, hăng say nhưng cũng đầy nông nỗi.

Sống với nhau không phải để tiếc thương một thời vang bóng, không phải để đổ thừa hay trách móc cho nhau nhưng để cảm thông với chính mình và cảm thông với cả lịch sử đầy khắc nghiệt đã qua. Có thể nói văn và thơ của Phan Xuân Sinh, nhất là trong tập truyện mới nhất của anh là những câu chuyện rất thật, những mảnh đời rất thật của một người Việt Nam sinh ra, lớn lên và để lại một phần thân thể trong cuộc chiến tranh tàn khốc của lịch sử loài người: chiến tranh Việt Nam.

Bên cạnh các giá trị văn chương mà các nhà văn, nhà thơ Tô Thùy Yên, Nguyễn Hàn Chung, Nguyễn Đình Toàn, Lương Thư Trung, Trần Hoài Thư, Nguyễn Thị Bích Ti, Trần Doãn Nho, v.v.. đã nhận xét, độc giả có thể bắt gặp trong Sống Với Thời Quá Vãng các cá tính nỗi bật của anh: hiền hòa, chìu chuộng bạn bè, trang trải hết lòng cho đời và cho người, dễ cảm thông tha thứ. Những cá tính đó chính là nguồn thu hút các thân hữu văn nghệ để họ tìm đến với anh.

Như từ nhiều năm nay, anh đến đâu bạn bè theo đến đó. Anh ở Boston bạn bè đến Boston. Anh ở Houston bạn bè đến Houston. Anh sống trong một căn nhà rộng rãi khang trang có hai con lân bằng đá đen canh cửa ở Salem, bạn bè đến với anh, và khi anh dọn về một căn nhà chập hẹp trên đường Winter Glen ở Houston, bạn bè cùng ngồi chen chúc với anh.

Đâu cũng thế, dù khi quây quần bên bếp lửa hồng trong căn nhà nghỉ hè bên bờ hồ Laconia tuyệt đẹp của mùa thu đông bắc và nghe Nguyễn Khánh Hòa kể chuyện tiếu lâm “Tháng Sáu trời mưa trời mưa không dứt, trời không mưa anh cũng mặc áo mưa” hay quán cà-phê nóng nực ở Houston, tình người vẫn tuôn chảy, tiếng hát vẫn thiết tha và nụ cười vẫn sảng khoái.

Ngoại trừ kẻ viết bài này (người chuyên hứa cuội với bạn bè như vừa hứa cuội với anh Phan Xuân Sinh), hầu hết bạn bè hứa đến với anh đều đã đến. Hoàn cảnh có khác, không gian và thời gian có khác nhưng tình người, tình thân hữu vẫn tràn đầy hương mật ngọt như xưa. Quê hương của nhà văn Phan Xuân Sinh và nhà thơ Nguyễn Hàn Chung có một câu ca dao quen thuộc rất thích hợp cho tình văn nghệ của Phan Xuân Sinh và bạn bè anh: “Tay bưng dĩa muối chấm gừng, gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Vâng, dù thăng hay trầm, dù nắng hay mưa, bạn bè đã không bỏ Phan Xuân Sinh.

Chính từ tinh thần đó nên các văn nghệ sĩ dù kinh tế và đời sống có khó khăn, anh chị em đều đã về với anh. Theo lời của MC Bùi Lê Nhung, vì số lượng văn nghệ sĩ từ xa về khá đông nên ban tổ chức chỉ giới thiệu khách phương xa và các các bậc văn nghệ sĩ trưởng thượng tại Houston. Ở Houston có các văn nghệ sĩ trưởng thượng như nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh, nhà thơ Tô Thùy Yên, nhà văn Đặng Phùng Quân, danh ca Duy Trác, nhà văn Nguyễn Thế Giác.

Về từ xa có nhà văn Trần Hoài Thư và phu nhân Ngọc Yến đến từ New Jersey, nhà thơ Trần Phù Thế đến từ South Carolina, nhà văn Trà Nguyễn đến từ North Carolina, nhà văn Hoàng Thị Bích Ti đến từ Virginia, nhà văn Nguyễn Thị Thảo An đến từ Georgia, nhà thơ Nguyễn Khánh Hòa đến từ Lousiana, vợ chồng anh Đỗ Xuân Quang – Bích Hà đến từ Georgia, nhà thơ Phạm Cây Trâm đến từ Arlington, các nhà văn nhà thơ Đinh Yên Thảo, Tôn Thất Phương, Lian Bùi, chủ nhiệm báo Trẻ Nhật Hoàng, nhà văn Phan Garland, nhà thơ Hoàng Định Nam, họa sĩ Bảo Huân đế từ Dallas và nhiều anh chị văn nghệ khác có thể ban tổ chức không ghi nhận hết.

Phần điều hợp chương trình do chị Bùi Lê Nhung và hai nhà thơ có cùng bút hiệu rất khói sương, đa tài, chẳng những tài hát hay, ngâm thơ, đọc thơ và cả đấu võ cũng hay: Yên Sơn và Ngu Yên.

Sau thủ tục làm lễ chào Quốc Kỳ và phút mặc niệm, các các văn nghệ sĩ Bích Phương, Đổ Xuân Quang đã lần lượt làm ấm chương trình qua các nhạc phẩm Kiếp Nào Có Yêu Nhau của Phạm Duy và bài thơ “Một chút tình cho Huế” của Phan Xuân Sinh. Phần nhận định về tác phẩm cũng như giới thiệu về tác giả do hàng loạt các văn nghệ sĩ đảm trách trong đó có nhà thơ Tô Thùy Yên, nhà thơ Nguyễn Hàn Chung, nhà văn Trần Hoài Thư và nhà văn Hoàng Thị Bích Ti.

Trong bài nhận định của mình, nhà thơ Nguyễn Hàn Chung đã phát biểu: “Có thể nói Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh là một bức tranh chân thực về lịch sử, con người một thời, tái hiện sắc nét chiều sâu tâm tư của tác giả .Cảnh và tình người cũ và người mới, chiến thắng và chiến bại rốt cục trước niệm thiên địa chi du du vô chung vô thủy của thời gian cũng chỉ là những mảnh vụn chìm sâu trong ký ức.Tác giả nâng niu gìn giữ nó để người đời sau còn biết có gió bụi một thời rót về phương mô.”

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung, dù chỉ gặp nhà thơ Phan Xuân Sinh một thời gian ngắn sau này nhưng họ nói về nhau dễ dàng hơn chỉ vì cả hai cùng một thế hệ, đã từng yêu say đắm một giòng sông, đi trên một con đường, sống trong lòng một thành phố, và đã cùng chứng kiến những hoang tàn đổ nát diễn ra trên nơi chôn nhau cắt rốn của họ. Họ nói về nhau nhưng thật ra cũng để nói cho chính mình và một thời bi tráng đã qua đi.

Nhà văn Hoàng Thị Bích Ti và Nhà văn Trần Hoài Thư đến từ miền đông rất lạnh đã lần lượt phát biểu về nhà thơ Phan Xuân Sinh như một nhà văn, nhà thơ và hơn hết là người bạn chân tình.

Xen kẻ vào các bài phát biểu là các tiếng hát tuyệt vời của Phương Nga với Hương Xưa của Cung Tiến, giọng ngâm thơ độc đáo của Yên Sơn với “Lời tỏ bày cùng quê nhà” của Phan Xuân Sinh, tiếng hát Hoàng Cương trong Như Ngọn Buồn Rơi và giọng ngâm của Bùi Thế Kiệt trong một bài thơ khác của Phan Xuân Sinh “Gặp người xưa giữa phố Boston”, các tiếng hát của MC Bùi Lê Nhung và ca sĩ Anh Định trước khi chấm dứt với bài thơ cảm động “Bay qua đời khói sương” qua giọng ngâm trầm ấm của nhà thơ Vĩnh Tuấn.

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, mỗi người phải trở về với đời sống riêng. Trong hành trang của các anh chị em văn nghệ sĩ, ngoài tác phẩm Sống Với Thời Quá Vãng còn là âm hưởng của một buổi chiều họ đã sống với nhau trong duyên văn nghệ, một đêm họ đã say với nhau trong tình bằng hữu. Chuyện ra mắt sách, cuối cùng, chỉ là cái cớ để họ nhìn lại nhau, gặp lại nhau, nghe tiếng nói của nhau, nghe giọng đọc thơ của nhau, nghe tiếng hát của nhau, để rồi mai đây còn có bao giờ nữa, cát bụi sẽ phù du và hồn thiên thu phiêu bạt. Nhà thơ Tô Thùy Yên một lần đã cảm động phát biểu về tình văn nghệ trong buổi họp mặt tại nhà của nhà văn Phạm Quang Tân vài năm trước đây: “Gặp nhau là một hạnh ngộ trong cuộc đời này”. Cám ơn nhà văn Phan Xuân Sinh và tấm lòng của anh đã gởi gắm trong tác phẩm Sống Với Thời Quá Vãng.

Trần Trung Đạo
tổng hợp cho NguoiVietBoston từ ý kiến của ban tổ chức, nhận xét của một số tham dự viên và chương trình buổi ra mắt.

PXS BookPremiere004
Nhà thơ Yên Sơn, điều hợp chương trình

PXS BookPremiere007
Cô Bùi Lê Nhung, điều hợp chương trình

PXS BookPremiere101
Nhà thơ Ngu Yên và tác giả Phan Xuân Sinh

PXS BookPremiere014
Nhà thơ Vĩnh Tuấn

PXS BookPremiere033
Nghệ sĩ Đổ Xuân Quang

PXS BookPremiere038
Nhà thơ Tô Thùy Yên

PXS BookPremiere058
Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung

PXS BookPremiere071
Nhà văn Hoàng Thị Bích Ti

PXS BookPremiere022
Nhạc sĩ Linh Phương

Nhặt mảnh vụn cơn đau quá vãng giữ ấm lòng linh lạc

(nhân đọc Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh –Hợp Lưu 2009)
Nguyễn Hàn Chung
Những năm cuối thập niên tám mươi khi còn làm anh giáo dạy văn ở một góc xó xỉnh quê nhà Quảng Nam- Đà Nẵng tôi đã có dịp đọc văn thơ Phan Xuân Sinh trên các tạp chí văn học và các website hải ngoại nhưng chưa hiểu văn và người anh nhiều .Khi tôi đến nước Mỹ  sống ở Houston – Texas có dịp quen biết anh ,vì thế đối với sự thẩm thấu văn thơ anh tôi làm sao có đủ lực  soi tỏ, cạn cùng như hai bậc đàn anh thâm giao với anh như nhà thơ Trần Doãn Nho và  nhà văn Lương Thư Trung trong lời  tựa và đề bạt ở trang đầu và trang cuối tập truyện. Nhưng chả lẽ cảm mà không thấm, thôi thì tôi  xin bộc tỏ  một ít cảm quan của mình khi thâm nhập và cố gắng chiếm lĩnh hồn vía văn Phan Xuân Sinh .
Sống với thời quá vãng không đồ sộ hoành tráng mang tính sử thi nhưng ngồn ngộn chi tiết hiện thực sống động.Bất kỳ loại thể văn học nào anh  đều đào sâu suy tư tìm hiểu,khai phá các vấn đề lịch sử ,dân tộc ,con người. Những nhân vật của anh được đặt trong mối liên hệ phối thuộc trong quá trình tác giả và nhân vật tham dự một cách tích cực .Đôi lúc đọc văn anh dường như người đọc cảm được cái giọng Quảng ngay thật mà riết róng ,nỗi phẫn nộ cố kìm nén mà vẫn bật thoát ngoài con chữ ( Cơn đau không dứt, Một giai đoạn ngậm ngùi). Ta thấy rõ anh không chuyên chú làm văn chương,mục đích của anh là nhặt và phơi những đoạn đời, những mảnh  vụn xa khuất làm chất xúc tác cho người đọc.Người có tuổi tìm trong hồn chữ mênh mang những niệm khúc ngày quá vãng,người tuổi trẻ sinh sau đẻ muộn có thể hiểu được nỗi lòng  bạch đầu bi phẫn cha ông .Nhưng cũng chính vì không chuyên chú làm văn chương tự thân những mảnh vụn ngậm ngùi anh kể lại bất chiến tự nhiên thành đã là văn chương đích thực bởi văn chương nào lại không đánh động trái tim con người. Trong nhiều truyện hoặc bút ký anh ráng làm ra vẻ khách quan tỉnh táo khi kể, tả tình tiết diễn biến câu chuyện nhưng đàng sau những câu chữ ngỡ như trung tính ấy  người tinh mắt sẽ mau chóng nhận ra trái tim dịu dàng nhân hậu  tràn đầy yêu thương  nhân ái của một nhà thơ(Khi con đường không lối thoát)( Một niềm vui ) .Bút pháp anh sử dụng trong hầu hết các truyện và bút ký mang đậm chất hiện thực ,ở  một đôi bài tính chính luận xen kẽ với hiện thực phô bày cảnh và người sống động đậm nét trong lần quy cố hương của anh (Sống với thời quá vãng).Ngôn ngữ đối thoại trong văn anh là kiểu trò chuyện giản dị ,đậm tính phương ngữ thỉnh thoảng ta còn bắt gặp lối độc thoại  nội tâm  dẫn dắt người đọc đồng cảm với anh về cách hành xử của các đối tượng được anh đề cập trong tác phẩm Gió bụi một hời -Nhặt lại những mảnh vụn .
Có thể nói Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh là một bức tranh chân thực về lịch sử ,con người một thời,  tái hiện  sắc nét  chiều sâu tâm tư của tác giả .Cảnh và tình người cũ và  người mới ,chiến thắng và chiến bại rốt cục trước  niệm thiên địa chi du du vô chung vô thủy của thời gian cũng chỉ là những mảnh vụn chìm sâu trong ký ức.Tác giả nâng niu gìn giữ nó để người đời sau còn biết  có gió bụi một thời rót về phương mô.Anh Trần Doãn Nho đã nghĩ chín, anh Lương Thư Trung đã ghi sâu về cái đẹp ,cái đáng trân trọng của Sống với thời quá vãng . Riêng tôi, với tư cách độc giả , tôi chỉ làm một việc dễ hơn hai anh nhiều : Phát biểu cảm nghĩ cá nhân  về những điều tâm đắc rút ra từ tập truyện . Còn chiều sâu tác phẩm,nội hàm ẩn tàng trong thi pháp tác phẩm còn chờ đợi nhiều  ở sự thẩm bình của các anh chị văn thi hữu xa gần  .Tôi khao khát một sự thâm nhập, chiếm lĩnh tác phẩm và chia sẻ với anh Sinh về đứa con tinh thần  anh đã trăn trở ,quặn thắt, tâm sự ,giải bày  từ một đời chiến chinh ,thăng trầm,lưu lạc .  .                     Có một điều tôi muốn nói rằng bao nhiêu cuộc chau mặt với tang thương -luống đoạn trường khi chứng kiến cảnh đó người đây  trong Sống với thời quá vãng đâu chỉ  có một mình tác gỉa họ Phan .Còn đồng tác giả  chúng ta  tuy vết thương đã liền da liền thịt nhưng dấu cắt vẫn còn đau  .Đọc tác phẩm và đồng sáng tạo với tác giả theo tôi thiển nghĩ đó cũng là tâm nguyện của bất cứ nhà văn,nhà thơ nào.  .
Houston   November 12 ,2009

Trước tượng thần Venus

Nguyễn Hàn Chung

Biết em chẳng còn xương

Tôi còn mơ da thịt

Biết em tàn như sương

Tôi còn mơ cuống quít

Tôi góp vào mê muội

Một câu thơ thậm tồi

Em chỉ còn chút bụi

Tôi lại còn không tôi

Biết em chẳng còn tro

Tôi còn mơ mùi tóc

Lũ tôi còn nheo nhóc

Trên một giàn đồng ca

Nhập mơ vào vĩnh cữu

Lao lư chuyện buông tuồng

Không nghĩ mình nhếch nhác

Chỉ âm trầm văn chương

Tôi biết mà không biết

Em không mà biết không

Màu xương hay mùi tóc

Cũ càng hay mới toanh?

4/11/2009

Bốn mươi năm mang mang hồi ức

Nguyễn Hàn Chung

Những năm  sáu mươi  khi bọn học trò xứ Quảng chúng tôi tập tò làm thơ có một bài thơ mà  hầu như đưa nào  cũng đều ưa thích  và thuộc nằm lòng.Đó lá bài Xa Cách của Châu Liêm mà  ngày  ấy chúng tôi cho đến hơn bốn mươi năm sau cũng không biết tác giả là ai. Tình cờ mới đây  đọc trên Website Da màu tôi mới tỏ tường  Châu Liêm là một trong những bút hiệu của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp  hiện đang sống ở Dallas Hoa Kỳ.Tôi không còn một văn bản  viết nào đành ghi lại bài thơ theo trí nhớ :

Xa cách

Châu Liêm

Hai dặm cát vàng duyên nối tiếp

Đôi bờ sông rộng mặc ai đưa

Tôi đâu dám bảo Trường giang hẹp

Chỉ hận nghìn năm với bến bờ

Đêm ấy người đi sương xuống lạnh

Trăng mùa tiễn biệt sáng mông lung

Tôi đâu dám hẹn ngày tương ngộ

Người khóc đêm nào người nhớ không?

Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng!

Ai tiễn ta qua vài bến nước

Với hai sào gió bốn sào trăng

Ai tiễn ta rơi vài giọt lệ

Lệ chảy đầy trong đôi mắt trong

Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông

Ấu thời đọc bài thơ nầy chúng tôi mê mẩn ghê lắm bởi cái âm điệu trầm bình mà bi tráng của phong cách thơ .Tống biệt hành ,Hành phương nam, tất nhiên trên cả tuyệt vời rồi nhưng Thâm Tâm và Nguyễn Bính tên tuổi lớn quá còn anh Châu Liêm nầy mới toanh  chúng tôi nghĩ có khi xấp xỉ tuổi mình cũng nên lại  có những câu  thơ phấn hứng đến chết người :

’Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng’’

Không khí ‘’Thử địa biệt Yên ,Đan-tráng sĩ phát xung quan –Tích thời nhân dĩ một –Kim nhật thủy do hàn của Lạc Tân Vương như đồng hiện khiến bon trai thời loạn chúng tôi ngứa ngáy tâm can nhưng là sự ngứa ngáy nâng con người lên một tấm cao mới khao khát hướng tới cái lớn lao đích thực mở ra những chân trời cho sự thấu hiểu bằng sự tiếp nhận duy cảm .Những hình tượng thơ thi vị hóa  , lý tưởng hóa  ,cách điệu hóa  mang tính quy phạm  thẩm mỹ của chủ nghĩa cổ điển được tác giả sử dụng xuyên suốt  trườn theo bố cục có sức níu kéo lòng người như các hình ảnh ‘’người đi sương xuống lạnh- trăng mùa tiễn biệt -hẹn ngày tương ngộ -trong đôi mắt trong…’’ .Có thể những hình tượng và ngôn ngữ ấy bây giờ đã quá sáo mòn đến mức người làm thơ lách nó như lái xe lạng lách  các ổ gà chứ thập niên năm, sáu  mươi còn rất thời thượng cuốn hút trái tim các ‘’Tuấn chàng trai nước Việt ‘’đến rứt không ra kia được

Nhưng ma lực của bài thơ dường như không phải các hình ảnh ước lệ ấy , kỳ lạ thật hình tượng thơ  từ trong rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san cũ kỹ lại bước ra rũ phong sương nhấn nhá bằng một số từ mang phong cách hiện đại

.Tôi muốn nói đến từ mông lung trong cụm từ sáng mông lung, từ xế, trong cụm từ  đời xế nửa và nhât là từ quấn trong hai câu thơ cuối cùng;
’Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông’’

Động từ quấn bình dị dân dã  mở đầu đoạn kết lại có độ hút mà trộm vía tác giả  tôi thiển nghĩ chính anh cũng đâu có ngờ trong suốt  hơn ba mươi lăm năm làm người thầy giáo dạy văn tôi đã dẫn dắt các em học sinh chuyên văn quê nhà bình  nhãn tự trong các câu thơ ấy. Tôi đã cho các em đưa  từ xế,quấn vào trong một trục với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa chẳng hạn để thay thế cho các từ ấy nhưng các em và cả người thầy đều bất lực .Tôi không nói ngoa Các từ ấy cũng giống như từ lẻn trong câu thơ Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào trong Truyện Kiều nói như Đỗ Lai Thúy đúng là con mắt thơ không có một từ nào khả dĩ có thể thay thế mà không làm đứt mạch hội ngộ văn chương của người đọc.Tôi nghĩ không ra làm sao một cậu bé học lớp đệ nhị mới mười sáu tuổi ( *l)ại có thể sử dụng từ ngữ điêu luyện dường ấy.Phải chăng  đó là của trời cho và tác giả với tư cách là người sáng tạo vẫn nằm ngoài hệ thống  với các mối liên hệ nghệ thuật  :Người chủ xướng và người đọc cũng chỉ đóng vai trò tham dự mà thôi .

Có những bài thơ tác giả là những nhà thơ lớn ,ngôn ngữ thơ hàm súc  đặc dị,chứng tỏ tác giả uyên bác và trí tuệ cao nhưng sao người đời lại không nhớ mà kỳ lạ bài thơ Xa cách của Châu Liêm tuy không có nhiều sáng tạo về mặt thi pháp nhưng chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ được  vượt qua được một độ lùi của thời gian chiếm lĩnh và tái tạo hình tượng ngôn từ trở thành hình tượng tâm tư trong lòng người đọc gây hiệu ứng tiếp nhận  bền vững trong lòng tôi và bè bạn một thời ,một đời…

Cái cực sướng nào rồi cũng nhanh chóng qua đi tại sao cái cực sướng văn chương cử đeo dai đeo dính chúng ta  đến mỏn đời làm vậy.

Tôi cũng không biết nữa…

Sugarland City

November 1.2009

(*)Sau này khi có dịp gặp anh Nguyễn Xuân Thiệp tôi mới biết bài Xa cách được anh viết năm hoc đệ nhị  trường Quốc Học  Huế  lúc  mới  mười sáu tuổi.Anh cũng không còn nhớ nguyên vẹn đứa con xa cách bốn mươi năm của mình…

Chim bỏ đàn xa xứ ôm nỗi nhớ tàn phai

Nguyễn Hàn Chung

(nhân đọc tập thơ Đứng dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh)


Có người cho rằng mạch thơ trong Đứng dưới trời đổ nát của Sinh ít tung tẩy chữ nghĩa như một số bài thơ của anh sau này.Tôi không nghĩ thế ,đọc hết tập thơ ráng căng con mắt thấu thị nhìn vào trong vỉa từ thơ anh tôi cảm thấu trong nội hàm ẩn chứa nhiều phong vị .Trước tiên là phong vị cổ thi’’ta.Trời tây mỏi mắt-người Trời đông chau mày-hai phương mà như một –nào đâu người có hay’’(bên kia nỗi nhớ).Tứ thơ  với những hình ảnh ước lệ ngựa hồ ,đất khách  cố xứ ,chân mây sẽ khá cũ càng  nếu anh  không có những câu thơ  khải truyền cho từ một tải trọng đời sống huyết tận’khẽ chạm vào huyệt lộ-bỗng dưng người mất tăm’’’’bóng đè lên thân phận –ta đang chiêu hồn ai?).

Đắm mình trong nguồn mạch văn chương  khí khái hào sảng ngày trước 1975 anh có những bài thơ thấm đẫm hào khí, ngôn từ trong thơ  nhắm vào đối tượng với tư cách ngôn từ thông thường ít nhiều còn mang tính tượng trưng nhưng  mê đồ chữ nghĩa đã biến dị  hiển lộ bản sắc cá nhân với những luận chứng ,luận cứ làm cơ sở của xúc cảm khẳng định lý tưởng hoài bão ôm ấp của mình (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(một đoạn cho Kiều )(gặp lại bạn ta).Những bài thơ ngóng vọng cố hương của PXS theo tôi đã đạt tới cảnh giới thơ khả thơ phi thường thơ bởi lòng anh và hình tượng thơ đã  hòa mạch vào nhau nói như lời Kim Thánh Thán ‘’chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới nữa’’ .Ta hãy nhâm nhi vài ly chữ của Sinh“nửa đêm còn vọng tiếng ai-nghe oan hồn khóc bên tai rã rời-giật mình chỉ biết ngậm ngùi-

làm sao chia bớt với người nỗi đau’’(bay qua đời khói sương)

Câu thơ cuối cùng kết tứ cho đọan  thơ dường như vô hình trung đã vận, đã mắc vào đời anh với niềm trăn trở làm sao gánh vác bớt nỗi đau bè bạn  ‘’chìm sâu ngàn trùng’’ hoặc ‘’lây lất khốn cùng bến mê’’.(Và theo như tôi biết từ  khi anh còn lăn lóc chốn chợ trời cố  xứ hay  sau khi lăn lộn kiếm được chút của nả xứ người bao bè bạn quê nhà đã được anh cưu mang ,đùm bọc mà anh giống như bậc hành giả dù viết cả một tập truyện ký mang mang hồi ức anh vẫn  kín tiếng không hề  thố lộ cùng ai)

Một số bài thơ  trong ba tập thơ của anh nói như lời nhà thơ Trần Doãn Nho trong bài Vài suy nghĩ về ‘’sống với thời quá vãng’’ ‘’đã đi vào lòng độc giả với cái chất hiện thực chan hòa trong lối lý sự  rất riêng ‘’cái lối lý sự giận dỗi lửa rơm  mà hầu như  bất cứ ông nhà thơ Quảng Nam kim cổ nào không mắc cũng là mang:‘’muốn may miệng những thằng láu cá-Bợ đỡ tung hô kẻ bất tài ‘’ ‘’khàn hơi chỉ mặt đứa gian manh-bán đứng anh em chơi trò lừa lọc-núp sau lưng đoạt cuộc tranh giành’’ Giận phường bội bạc , ngòi bút anh tung hoành rót về tứ phương để trút cơn phẫn hận  chứ  ngoài đời anh rất hiền, bạn bè chỉ thấy một PXS chưa hề nặng lời với ai kể cả những kẻ không ra gì…

Những bài thơ viết về vợ của anh rất chân thật và cảm động bởi nó không màu mè dối trá như một số nhà thơ khác .Hơn ai hết  anh cảm thấu người bạn đời

là người ‘’cắn răng chịu đời khổ tận –u uất trong lòng-đắng cay chồng chất’’để ông nhà thơ tự thú ‘’ hư thân, bạt mạng ,cuồng ngông, hoang đàng’’lao tâm khổ tứ chơi cái trò phụng hiến con chữ  mà con chữ hỡi ơi vĩnh viễn hay phù du nào ai biết ai hay.Mảng thơ viết về bạn của anh dàn trải trong nhiều bài thơ ‘’chén rượu tạ lòng bạn hiền-gặp lại bạn ta-nói chuyện với bạn hiền …’’thật sự bộc tỏ lòng anh với bạn’’ta gióng chuông kêu lên tức tưởi-những oan hồn vất vưởng đâu đây-âm dương .cùng ngồi chung manh chiếu-bạn,thù .chia nhau chén rượu đầy..(nói chuyện với những bạn hiền )

Thơ PXS đặc dị ở chỗ có những câu anh viết rất trụi trần không câu nệ ngôn ngữ toàn dân hay khẩu ngữ nhưng vẫn có tính hàm súc cao,từng câu đều có tính độc lập nội tại, nhiều câu có chiều hướng hướng tới tính chất và cấu trúc của  những cách ngôn(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(đêm nằm nhớ Ức Trai)(nói chuyện với những người sinh vào thiên kỷ mới).

Đứng dưới trời đổ nát của  PXS dù vẫn chưa thoát ra mô tip thơ  ngất ngây hào khí vang bóng của lớp trai thời loạn một thời nhưng trong thơ anh trời đổ nát đã tái sinh  với những hình tượng huyễn tưởng đan cài .Đọc thơ anh không  chỉ những  tên đồng thị thiên nhai luân lạc nhân , suốt đời vật vã- chạy vòng quanh kiếm tìm trên bước đời lưu lãng chúng ta hắt hiu lòng vọng nhớ những Giếng Bộng,Đò Xu cũ càng,một Cầu Vồng dốc ngược, bến phà Hà  Thân đã chết mà những bè bạn quê nhà  những kẻ đầu non cuối chợ,búa rìu bổ lên đầu lên cổ cũng tìm trong bóng chữ trong thơ PXS một chút bóng dáng an ủy

trong những năm tháng cuối đời.

Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong  tập thơ Đứng dưới trời đổ nát là  tuy vẫn bám vào các thể loại  cấu trúc của truyền thống cũ  nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu :tình yêu,quê hương, cái chết ,nỗi đau, niềm tin ,chiến bại… Và  một điều đáng để những ai yêu quý thơ PXS lưu tâm  là bất cứ dự cảm nào trong hình tượng thơ anh cũng bộc tỏ phong cách rất riêng của người nghệ sĩ không lẫn vào bất cứ nhà thơ  hải ngoại nào .Phải chăng đây chính là bản lai chân diện mục của hồn thơ Phan Xuân Sinh!..

Viết tại Lầu Cây khế -Houston Texas

Tháng 10/2009

Màu gì mùi gì vĩnh cữu phù du ?

Nguyễn Hàn Chung

Đột nhiên tiếng cơn trốt xoáy hầm hè
căn gác sợ mùa thu  hô biến
tên lái buôn đếm lời  lỗ trong những câu thơ ráo hoảnh
nụ hôn bà lão sướng rân bật rật đến môi anh bầm ngắt
dấu son bải hoải lưu đày.

Nhớ em sặc sụa mùi đau mà không lại  thòm thèm
cái gì bác sĩ dặn dò hút rít phèo phổi tan hoang
anh xơi tái nỗi buồn bằng con khói
huyết áp lần mò huyễn mộng khác gì nhau
chỉ thương chân sáo chân nhồng run rẫy dìu lóng xương lấp gấp.

Bốn mươi năm hơn quen  thói mất rồi
đến buổi hom hem chẳng lẽ  cam tâm  diễn trò nín thắt
cành khế xương gà nuốt ực cái nào đây
thành phố tám làn xe chỏng trơ gốc rạ
soi môi hú ba hồn bảy vía  mông muội ấu thời.

Đột nhiên thực tại tán loạn xà bần
dối trá nhau mà làm gì
những kẻ chuyên nghề bóc tem da thịt
leo lẻo hô hoán  phù du vĩnh cữu.

Ai biết chỉ dùm màu gì mùi gì
vĩnh cữu phù du ?

26/09/09

Chùm thơ của nhà thơ Ngyễn Khôi

Nhân một chuyến du hành tới xứ Quảng nhà thơ Nguyễn Khôi có viết một chùm thơ về mảnh đất “chưa mưa đà thấm  “tặng Chàng trai già Quảng Nam ” lưu vong.
NHC xin trân trọng giới thiệu cùng các ban.

Bài 1:
Sông Thu Bồn
(Sông Thu Bồn giọng hát đò đưa) – Câu hát cũ

Sông Thu Bồn đôi bờ tre xanh biếc
Ngỡ sông Năng(trên Ba Bể)(1) ta về
Chang chang nắng, chang chang trời tha thiết
Đuôi mắt huyền em gái rất là quê

Ai có giận? – anh đâu chê Gò Nổi
Bãi dâu non sóng lụa óng tơ vàng
Ca điệu “lý” để cho lòng bổi hổi
Chàng trai nào khí phách vượt Quảng Nam?

Ơi sông Thu… bồn chồn ngàn thương nhớ
Nỗi đau nào bằng nỗi khổ ly hương
Được làm gốc tre già bên bờ sông bồi lở
Còn hơn là thuyền lưu lạc mãi trùng dương…
14-9-2009

Bài 2: Phỏng “Lý Quảng Nam”

Mấy khi qua nẻo Hải Vân
Có tui có bậu thỏa lòng ngàn xưa
Sông Thu dào dạt đôi bờ
Sóng xa nào biết nơi mô cội nguồn?

Cau xanh biếc lá trầu thơm
Ngọt ơi là trái bòn bon tặng tình
Bây chừ bậu nhớ đinh ninh
Cánh cò bay chở chúng mình về đây

Sông Thu một dáng thanh gầy
Vu Gia sóng vỗ chừng say mạn thuyền
Bên nhau là nghĩa là duyên
Có tui có bậu để quên sự đời.

14-9-09

Tặng Phong Hàn


Vọng Tiễn Đưa

Vui chân vào tới Tam Kỳ
Cơm gà một đĩa, canh mỳ một tô
Người đi chẳng có ai chờ
Sông Thu lạnh buốt tứ thơ trong đầu
Rượu à? ai đối ẩm đâu?
Cuộc vui trần thế là sầu thiên thu
Xa nhau nghìn dặm tít mù
Định ca câu “lý” ngần ngừ lại thôi
Thương ai lầm lũi bên trời
Tay nâng ly, hẫng …tuột rơi tan tành

Đọc lại bài tựa truyện Kiều năm 1820 của TIÊN PHONG MỘNG LIÊN ĐƯỜNG chủ nhân

Ngày trước, các ấn phẩm in truyện Kiều (đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du, mở đầu thường có hai bài tựa:

- Bài thứ nhất của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân (1820)
- Bài thứ hai của Phong Tuyết chủ nhân Thập thanh thị (1828)

Cùng bài thơ chữ Hán (đề từ – thi vân) của Lương Đường Phạm Lập Trai (Phạm Quý Thích)

Về bài “tựa thứ nhất” của Mộng Liên Đường, viết vào năm 1820, đây là năm Canh thìn, Vua Gia Long băng hà, Vua Minh Mệnh nối ngôi – đồng thời cũng là năm Đại thi hào lâm bệnh qua đời ở kinh đô Huế trong một nạn dịch bệnh đương thời làm chết hàng vạn người. Nói theo kiểu cổ nhân: Mộng Liên Đường đề “tựa” Đoạn trường tân thanh mà Nguyễn Du viết vào khoảng năm 1814 sau khi đi sứ nhà Thanh(bên Tàu) về…
Nghĩa là truyện Kiều đã trình làng được 6 năm, tác giả của nó cũng vừa qua đời; người viết có đủ điều kiện và xúc động ở thời điểm vừa “cái quan định luận” để đề “tựa”. Bài viết ngắn gọn, xúc tích dài chưa đầy hai trang giấy mà có nhiều câu người đời sau dẫn đi dẫn lại. Mở đầu bài “tựa”, Mộng Liên Đường lý giải rất khéo về hai chữ “đoạn trường” : “trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình.Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là cái căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy”.

Sau khi nói về cái lý do mà Tố Như tử đem truyện Thúy Kiều chép trong Lục Phong Tình rồi “dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả tình đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy?…
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ ra rằng cái nợ sầu của hai chữ tài tình, tuy khác đời mà chung một dạng. May được nối ở đằng sau quyển “Tân thanh” của Tố Như tử, cũng là một khúc đoạn trường để than khóc người xưa.”

tháng hai, niên hiệu Minh Mạng (1820)
viết ở Thán hoa hiên đất Hạc Giang
TIÊN PHONG
Mộng Liên Đường chủ nhân

Tiên Phong và Mộng Liên Đường (đình) là tên hiệu của Quan chức – nhà văn Nguyễn Đăng Tuyển(1795-1880) hậu duệ Trạng Bịu (Nguyễn Đăng Đạo 1651- 1719) quê ở thôn Thượng(tên nôm là làng Bịu Thượng) xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh.

- Nguyễn Đăng Đạo, đỗ Trạng Nguyên năm 33 tuổi, niên hiệu Chính Hòa, đời  Vua Lê Hy Tông 1683. Năm 1687 ông được cử đi sứ sang Tàu vào chầu Vua Khang Hy nhà Thanh.
Do đối đáp, thi thố văn tài với sứ thần các nước, có các bài đệ lên ngự lãm, được Vua  Khang Hy (một vị Vua nổi tiếng hay chữ) phê cho Trạng Bịu: “Bắc Triều đệ nhất Trạng Nguyên”. Theo sử sách: ông là người trung thực, thương dân, làm tới chức Tham Tụng(Tể Tướng). Ông mất năm Vĩnh Thịnh thứ 15 – vua Lê Dụ Tông phong tặng Lại Bộ thượng thư, Thọ quận công, ban cho bốn chữ “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” và một đôi câu đối:

Tiến sĩ, thượng thư, thiên hạ hữu
Trạng Nguyên, tể tướng, thế gian vô.

- Ông nội của Mộng Liên Đường là Nguyễn Đăng Vỹ, đỗ tiến sỹ năm Bảo Thái (1720 – 1729) đời Lê, làm quan tới hàm Thiếu Bảo, tước Kế Thiện hầu .

-  Cha Mộng Liên Đường là Nguyễn Đăng Chiểu đỗ hương cống(cử nhân)  làm quan đến Hồng Lô tự khanh. Cuối đời Lê loạn lạc ông đưa vợ con lánh lên xứ Đoài, làm nhà thuộc huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây. Thời Lê huyện lỵ Tiên Phong đóng ở xã La Phẩm(nay thuộc huyện Ba Vì – Hà Nội).

- Nguyễn Đăng Tuyển từng đỗ Tú Tài được bổ làm giám sinh ở Quốc Tử Giám. Năm Minh Mệnh thứ 17(1836) được bổ làm tri huyện Vị Xuyên(Tuyên Quang) sau chuyên về Kinh làm chủ sự ở Bộ Hộ rồi được thăng Thừa Chỉ, Thị Độc. Ông là người “vì văn học mà được Vua biết đến” thường được Vua Tự Đức cho ngồi bên cạnh dự các kỳ thi do Vua chủ trì, ông đã soạn các quyển”Đào hoa mộng ký”, “Nam thị quốc phong”, dâng Vua xem, được tán thưởng, chuyển làm trước tác rồi được sung chức Biên Tu Quốc Sử Quán. Năm 1856, ông được bổ Tri Phủ Thuận Thành(Bắc Ninh) rồi xin hưu trí. Tuy đã về hưu,ông vẫn được
Vua cho người về thăm hỏi, lại sai làm Vịnh sử ca.Vào dịp Vua 50 tuổi(ngũ tuần đại khánh) , ông dâng thơ tụng, được ban thưởng, vài năm sau thì mất, thọ 86 tuổi.

Nguyễn Đăng Tuyển – một cây bút tài hoa, ông lưu danh cùng Tố Như tử với tên hiệu “Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân” (bài tựa) được dịch in trong sách “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in năm 1925 và tái bản nhiều lần.Nay đọc lại lời bình sâu sắc của ông”xem đến chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn nguyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh ấy gẩy xong mà oán hận vẫn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên”đoạn trường tân thanh” cũng phải.”

Nay đã qua 189 năm, đọc lại bài tựa truyện Kiều của Mộng Liên Đường, kẻ hậu sinh (NK này) vướng duyên hàn mặc(bút mực) vẫn thấy văn chương của bậc tiền bối như nước chảy mây trôi, sâu đậm tình người truyền lại cho con cháu cái tài, cái tình theo cánh Rồng bay lên quả là hứng khởi biết chừng nào?

Góc thành nam Hà Nội, 2-9-2009
NGUYỄN KHÔI cẩn bút.

Lỏng bỏng một mình

Nguyễn Hàn Chung

lỏng bỏng một mình
mùi quê xứ nhạt thếch
điềm nhiên chan húp món món
ném  những hạt ngọc của trời vào giỏ rác không thương tiếc

múa đường dao chặt cái  bụp
đứt đầu đứt cuối đứt loạn xạ
cái mòn nịnh cái mới trá cái cũ đẩy đưa
cái vần vè nghiện ngập đánh chết không  chịu chừa
gặp mặt mẹ là quát gặp tàn tạ yêu xưa ngoảnh thật lẹ
rắp tâm dụ khị con bé mười lăm dệt mộng cao vời  nói ra rả về lý tưởng bảnh chọe

đầu con mắt ngước vọng đài tượng thiêng liêng
đuôi con kia rúc thả vào dưới váy
không có gì trơ trẽn bằng tình yêu chân thật
khi bít
chỉ còn hậm hực thù hằn
nếu không có nghìn sâu hun hút thì không có vợ hiền
gạt lường chung lưng đấu cật với trí trá
mồm  nam mô,  miệng a men

sướng cực một mình mi
cười ròng  rã  cây cột điện đường tối thui
lẩu thơ tùm lum chây bựa lộn tùng phèo
em ơi em đâu rồi em đâu rồi ?
bỏ anh tình yêu dồi chó thoa son mải miết
Houston
01/09/09

Chạm

Nguyễn Hàn Chung

Chạm cốc tia nắng chiều hớt hãi
ực từng ngụm leo lét
thành phố tỳ vết úp mặt vào bụi đỏ
người ta mày mò úp chụp vào nhau
anh úp em vào nỗi chai sần bầm tím nhu nhú

đứng trưa gió thin thít phả mùi câm
thiếu mớ tóc xuôi xị nhẫn nại cất bước
ngập ngụa hố xí tham vọng đời người
không thể tận tường đêm hôm đôi mắt ấy
thản nhiên quấn em vào mộng du

đừng cộng vào nhau thành một phép trừ
ai đó phun tị hiềm vào quá khứ
tách bạch già trẻ mà làm gì
năm tháng không cởi toạc được đâu
lọc lừa và ngu muội

Chạm thêm nữa đi
chớ để khuôn mặt em tàn nhang chết nắng khô queo
anh mài đũng sân si không bòn ra nỗi nhớ
lên cơn siết chữ bàng hoàng
trong tư thế đứng khoeo chân
tựa chầm chập tin yêu vào không tưởng

nhấm nháp ốm tha già thải mà rớt nước mắt
ruồi bu thì vẫn kiến bu
câu chữ lúng búng cửa miệng
phun thoắt vào trong
đành

Chạm không nghe tiếng lanh canh
mà ly vỡ

Vụn.

Dallas 15/5/09

QUA ĐÒ, NHỚ MẸ

2009-03-29 @ 10:59 in Tác Phẩm Thơ

Viết nhân ngày sinh nhật mình ( 29.3 )
Ngày còn trẻ, mỗi lần về thăm quê, tôi thường đứng bên kia sông gọi đò. Người chèo đò có thể chưa nghe, nhưng mẹ tôi đã nghe rõ tiếng con mình ơi ới gọi. Trước nhà tôi là con sông Vu Gia hiền hoà, nơi mẹ đã sinh ra tôi trong một ngày gió to. Cứ đến ngày 29 tháng 3, tôi lại nhớ mẹ nhiều hơn. Bài thơ này xin tặng mẹ nhân ngày sinh nhật của con.

Nguyễn Ngọc Hạnh

Tôi sinh ra
từ bến sông này
Sông thì hẹp
mà quê dài rộng thế
Đời mẹ nhọc nhằn
bao mưa nguồn chớp bể
Ấp ủ đàn con
trong đôi gánh tảo tần Đọc tiếp »

Tru Yêu

                       
                                 Nguyễn Hàn Chung

 anh có thể chẻ đôi tình yêu
một nửa cho em một nửa cho người đàn bà khác
cũng có thể chẻ ba, tư ,năm, bảy chín…
cho bất cứ người đàn bà nào đi qua trong đời
họ có quyền nhận phần  yêu của họ
dù chẳng xơ múi là bao .
(ía.. a.. trường hợp anh là người nổi tiếng )

em có thể hiến dâng linh hồn đắm đuối
cho tất cả những người đàn ông đi qua đời em
còn xác thân thơm tho  em dành riêng cho anh
hỡi người tình vật dục
anh có chịu  nổi không  ?

 anh có thể yêu em bằng trái tim chân thật
dù chúng ta không hề gặp mặt
hoặc giả em cuồng say hoan lạc với một ai đó mà vẫn yêu anh chết bỏ
hỡi người tình thánh thiện
anh có ung dung liếm láp nỗi buồn ?

đã biết cuộc người ngắn ngủi sao còn  đóng vành khăn đạo lý láo toét
 không thấy
 những loài  không biết yêu não tràn dịch tủy tuổi thọ dài hơn đó sao
ghen tuông chỉ tổ làm mòn số phận

yêu đơn thuần là động tác cộng hưởng từng sát na cấy giống
đừng vẽ vời Tru tiên *
đừng phỉnh phờ liên miên …
1/5/09
*Tên một tác phẩm võ hiệp của Tiêu Đỉnh một tác giả mới nổi  trong nhóm Thần Châu tân ngũ hiệp bên Tàu

Bài tha phương không chín


              
                          Nguyễn Hàn Chung      

                            Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân

Xuân xứ sở cao bồi xa tít viễn tây
sắm tết bằng  không gian ảo
thân thuộc trên màn hình không nói
tôi ngóng trân về một phương

Ngày chăm bẳm  lò cò trẻ nít
gồng gánh bưng biền rơm rác đã xa
 mong manh cầm giữ dằng dai
chỉ sợ mình kép hát

Lọt thỏm giữa chiếc xe gìa cộc cạch
xuân giãy giụa bào mòn ký ức
em khuất đâu trong đồng lúa vàng
tôi chun mũi hít hà hương bồ kết

Đêm ri rỉ tiếng thở dài ngốc nghếch
mắt đen chìm khuất mênh mang
trong giấc mơ bầm dập nhấm nháp  từng giọt
mồ hôi cần lao  tôi  tinh tươm  má lúm đồng tiền

Những sợi tóc đen hiếm hoi
 ương bướng chống chỏi  quyết liệt sự bỡn cợt của thời gian
ngày nào đêm nào
cũng  quả quyết tự ngôn là lần chót

Thân oằn nhớ xứ ngày xuân xúng xính làm  trẻ con
rau ráu bánh tưởng nhai dòn tan
văng vẳng  tiếng xóm giềng chúc tết
 biết chia sẻ thế nào
người đàn bà tóc vàng mắt xanh  lạ hoang
Houston-Texas
 
                                        

CƯỠI BÓNG MÌNH QUA GIẤC MƠ HOANG

Nguyễn Chiến

                        

                          

                                              (Đọc tập thơ Trích tôi của Đỗ Thượng Thế)

     Có lần Đỗ Thượng Thế nói với tôi: Rất sợ bị vần nhịp lừa mị làm hỏng í thơ. Người thơ nầy rất có í thức viết mới, viết như thế nào đó để bộc bạch, giải bày cho đến kiệt cùng, chứ không chịu hạ mình để cho vần điệu phỉnh phờ, ràng buộc mà sinh hạ những câu thơ xập xèng, ẻo lả, điệu đàng. Hãy xem trong Trích tôi, Đỗ Thượng Thế đã cố gắng viết mới theo hướng nào?

     Tôi biết Đỗ Thượng Thế còn có những bài thơ rất trữ tình, rất… dễ đọc. Xin ghé lại một chút với những vần thơ ấy:

                            Chìm sâu trong giấc cỏ xanh

                            Ánh biếc chong ngày rờ rỡ

                            Sực mùi giêng xưa hít thở

                            Ấm hơi đánh thức nỗi thầm 

                           Gót gầy ướm dấu chân non

                           Gặp tiếng chim thơm vườn ổi

                           Sông nắng vô tư bơi lội

                           Ao mưa nơm úp ụp òa…

                                                 (Trong giấc cỏ xanh)

                           Chưa từng tát cạn đêm sâu

                           Chưa ngồi nhặt bóng chưa khâu vá hồn

                           …

                           Chưa em chưa cả ta thôi

                           Cả mưa xưa phía cuối trời còn tuôn

                                                  (Như chưa)

Người đọc thơ anh rất thích những bài thơ như thế. Nhưng anh lại để mặc cho chúng nằm xẹp đâu đó trong góc lòng anh. Anh muốn, ở tập thơ đầu tay nầy, giới thiệu một Đỗ Thượng Thế gào khô khản vắng…cỡi bóng mình qua giấc mơ hoang, nhập thân vào con vụ trụi trần cuồng quay, vào bóng cò già…gầy nhom,vào con nít trần truồng bến trưa hò hét, có khi tê dại thèm…đương kì ngực hương dậy mẫy hoặc ngồi hít hà cái mùi hạnh phúc trong: Tã lót bé thơ/Lung linh nét nhạc/Tong tong mặt trời…Anh muốn ra mắt một Đỗ Thượng Thế với những câu thơ bụi bặm, tung hứng, xập xòe, quẫy đạp cho tím bầm hồn vía…

     Cách tân là yêu cầu của văn chương mọi thời đại, là trách nhiệm của người cầm bút chân chính. Xét trên tiêu chí nầy, Đỗ Thượng Thế đã dũng cảm gồng mình “quăng thân vào gió bụi” (chữ của Tố Hữu) giằng co với chữ mà viết những bài thơ không cấu tứ, dồn nén ngôn ngữ không vần không điệu, mở lối cho mình.Tôi nghĩ: muốn viết mới trước hết phải đổi mới cảm hứng. Một khi quan niệm thẩm mĩ thay đổi, điệu hồn thay đổi tất sẽ dẫn tới đổi mới nghệ thuật biểu hiện, cách bộc lộ cảm xúc…Không mới trong mĩ cảm thì cái gọi là cách tân, thể nghiệm chỉ là trò múa may con chữ. Xem cái biểu đạt quan trọng hơn cái được biểu đạt thì khó mà không rơi vào duy mĩ. Cái tôi trong Trích tôi không “đơn ngã” mà nhiều màu, lắm sắc. Lúc là thâm căn cố đế thằng tôi quê bần, lúc “sang trọng” làm đứa con hiểu đến tận cùng đường cày đời cha, đến cuối cùng vụ mùa đời mẹ, khi cao đạo giương cánh phù sinh/ thanh lọc phong trần, khi cũng “phàm trần” sững sờ trước đương kì ngực hương dậy mẫy.  Lúc già như bóng cò già, lúc trẻ như con nít trần truồng, khi như con vụ cuồng quay, khi lắng đáy tâm…Cứ thế, Đỗ Thượng Thế tha hồ khám phá chính mình và “trích” ra cho đời một cái tôi khát khác. Bản ngã được mở ra nhiều hướng, í tưởng bị hút dần về phía những ngõ khuất của vô thức; người thơ mon nem đi vào miền siêu cảm mà tìm bóng mình qua giấc mơ hoang. Vì vậy, hiên thực trong thơ anh tồn tại ở những nét mờ nhòa. Bóng mẹ, bóng cha, bóng cò gầy, bóng vạc giạt dàu thức trắng, con chó và tay săn trộm chó…chỉ thóang qua. Nhiều ám ảnh, ẩn ức khó gọi tên. Gió trong thơ anh là gió không mùa, mưa là mưa Trịnh, mây huyền thọai, trăng héo trong tranh, bươm bướm chuồn chuồn la đà cổ tích, lũ chỉ là biến tấu . Nhiều câu thơ của anh không phải để hiểu. Đọc thấy hay, thấy choi chói nỗi niềm nhưng thấu nghĩa thật khó. Như thế nầy chắc chính anh cũng mơ hồ:

                                 – Giạt rều rềnh lao đao

                                 Mấy mươi năm hồn hanh bụi mốc

                                  Nhịp lửa xới hăng hăng củi rục                                                    Giọt tranh loang đẫm ngực

                                  Âm ẩm bùn vũng trâu

                                  …

                                  Thân dế nhiều khi lụt lội

                                   Áo cơm vắt vẻo ngọn khuya

                                   Khát cứ hà rầm ngập nỗi

                                   Lại cơn úng tóc dàu về 

                                              (Biến tấu lũ)

                                – Nỗi đắm cạn bãi bờ ngày xô sóng lận

                                  Bọt nước vỡ thau những chân trời rựng tím

                                  Những cánh say mù biếc

                                  Những dát hồng nắng mưa

                                  Những thiên lưới dằng dai kiêu bạc

                                 Những mẩy trăng những ngần sao                                                                                Những đẫm ngợp

                                                  (Không đề)

Tôi nhớ ai đó hỏi một nhà thơ: -  Ông định nói gì trong thơ? Nhà thơ trả lời: – Nếu nói gì thì nói chứ làm thơ để làm gì? Người làm thơ nhiều khi viết để giải tỏa một ẩn ức, “viết vì nghe theo một tiếng gọi mơ hồ, bí mật nhưng dai dẳng của ngôn ngữ“(Henry Miller). Đỗ Thượng Thế tập tành đi theo tiếng gọi ấy chăng? 

Í thức thể hiện cái tôi khát khác, nên anh thiên về biểu hiện những chiều kích của tâm hồn hơn là tái hiện thực tại. Anh đã cố gắng mở rộng biên độ cảm xúc và diễn đạt bằng những ám thị, ẩn dụ… Vì thế, trong nhiều câu thơ hình ảnh đan chồng, cảm xúc níu quấn, ‎ í tưởng xô lệch:

     – Thằng nhãi con giương cao chùm nắng mẹ cho, chân ngập điệu mưa non, mê rêu rao trật tự cầu vồng

                                                           (Sắc màu riêng)

     – Những ngọn gió thì đương mùa lên tắt nghỉ

       Một đời hương biết ngát vào đâu khi bướm tiên lũ lượt về trời

      Rêu ám giấc mơ cứ đòi đêm thóat kiếp

     Mà đêm đêm như cái bào thai…kìa người đàn bà đang cơn vỡ ối

                                                           (Hồi âm)

   -  Về phía nào!?

      Phía nào…?

     Trước mặt trời tứ tán

     Trái tim ta vỡ òa như bầy kiến

     Tha chiếc bóng cỏ xanh

     Rân rần tháo chạy…

                                                        ( Mê lộ cỏ)

     Nhiều người viết mới hết sức cực đoan, muốn tung hê truyền thống. Họ không ưa cả những cách nói cho đẹp lời (mĩ từ pháp). Họ cho rằng đó là thứ xảo ngôn của hạng thi sĩ điêu toa, giả dối. Từ đó cứ viết câu thơ đuồn đuột, đến khó chịu. Đỗ Thượng Thế chừng mực. Anh vẫn có thơ lục bát nhưng làm mới đi một tí. Đó là cách vắt dòng và hài thanh phá cách:

                                   Chắt cạn cùng

                                  Lắng đáy tâm

                                 Ưá đầu ngọn bút

                                 Cái thần phiêu diêu

                                 …

                                 Nét cơn khát cánh chim trời

                                Nét lại hồi nét một thời đương xuân

                                                     (Nét)

    Thơ và nhạc là hai chị em sinh đôi(Phan Hùynh Điểu). Thơ có thể dài, có thể ngắn, có vần hoặc không vần, hài thanh hoặc không nhưng không thể không có nhịp điệu. Điệu hồn mới thì thơ tự nhiên có cấu trúc âm nhạc mới. Đỗ Thương Thế “sợ” vần nhưng thơ anh vẫn có tiết tấu, biến tấu:

                                 Em – dịu dàng

                                 Đi qua

                                 Bén!

                                 Lửa!

                                 Từ đôi mắt biếc

                                 Tận tim anh

                                 Cháy!

                                 Bùng!

                                                     (Cấm lửa)

     Thơ đòi hỏi kiệm lời. Tôi đặc biệt ưu ái lối thơ có cảm xúc nén chặt trong những câu thơ tỉnh lược đến mức tối đa. Thơ hay có khi là những mảnh ghép rời nhưng có chất keo cảm xúc kết dính bên trong. Trích tôi không nhiều những vần thơ như thế. Đỗ Thượng Thế khá chắc tay, phả được sắc hồn đẫm ngợp vào thơ; song vẫn còn những câu ngắn nhưng thừa chữ:

                                Mọi kho xăng đều cấm lửa

                                Để đề phòng tai nạn xảy ra

                                                      (Cấm lửa)

Vẫn còn những câu nhưng chưa đọng, í bé hơn lời:

                                Thì một gã khát tình

                                Ngữa mặt

                                Trông mày

                                Lắm ảo tưởng

                                Nhưng không í định…

                                                        (Bóng mưa bay)

Lắm khi người viết không bước khỏi bóng mình:

                                Mỗi thóang thu trôi bến cũ đều rằm

                                                        (Một dòng sông)

                                Thiếu nữ lạnh ngực rằm

                                                       (Kí sự đêm)

                                 Một đêm…

                                 Em dậy rằm

                                                       (Giấc xa xăm)

     Trong cuộc dấn thân đi tìm cái mới, Đỗ Thượng Thế đã dám “bước qua lời nguyền”:

                                Ta hẫng rơi bóng câu thề trắng đất

                                Bước ngày lên…

                                                         (Mê lộ cỏ)

Có thể xem Trích tôi là thể nghiệm ban đầu thành công của Đỗ Thượng Thế. Anh đã làm mới được mình bằng những bài thơ với một cái tôi khát khác;  người đọc có thể ngã hồn lên tin cậy. Vội mừng cho anh…

                                                                                 Cuối năm 2008

                                                                                           NC



Có khi, thế rồi

                      Nguyễn Hàn Chung

Có khi
            thấy chán quý bà
Tôi tuôn một mạch
tôi ra cánh đồng
Bốn bề
           gió nắng minh mông
Cô đơn tôi quá
con lòng trống treo
Thế là
            tôi lại tìm yêu
Ba con móng đỏ dập dìu ,
                                        có đâu ?
Tôi về với mụ trầu cau
Dụi câu thơ
                    giữa hai bầu vú teo
Có khi
             quá chán đâm liều
Vung tay ôm đại
em kiều bá vơ
Cũng tâm sự
cũng rù rờ
Qua con khát
       thấy
trống huơ nhân tình
Thế rồi
            đâm nghĩ linh tinh
Đến phơ phơ vẫn
                              náu mình dòm quanh
Bàn chân
               áp sát cổng thành
Bước chân quen thói ma lanh
             rẽ lùi
              
Có khi
             rốt cụôc
                            thế rồi
Bấy bao yểu điệu
soán ngôi phất cờ

Harris County Hospital
Houston TX
25/10/2008


 

TIỄN ĐƯA

                   Tặng Phong Hàn (Nguyễn Hàn Chung)
Tôi đưa người đi đêm nay
Người đi, Tôi ở buồn thay phiên chờ
Xa người, người vắng, vắng thơ
Rượu ngon người vắng cũng hờ hững thôi
Tôi đưa người-ai đưa tôi?
Biết trăm năm có còn vui thế này!
Đưa người như trông mây bay
Người đi vạn dặm biết ngày nào quên
Thôi chung rượu nầy để dành
Mai người trở lại cùng nâng cạn sầu.
                                 Trầm Luân

La Trung

LẠY QUÊ
(Viết sau cơn lụt lớn 1999 tại miền Trung)
Tặng: Nguyễn Hàn Chung

Cộc lốc
Tiếng chửi thề rơi trên bờ ruộng
Chân trần dậm nát lời đau !
Tai ương rập rình bên bụi lúa
Thủy quái đầu nguồn được mùa hí lộng
Thi nhau trấn nước quê làng
Nửa tỉnh nửa mê…
Thần nông cũng đành bó gối
Tủi lòng bấn giọng quê hương !

Thương quê…
Gã say loạng choạng
Tiếng chửi thề rơi trên đường vắng
Bờ đêm mặt nạ rơi đầy
Chị Dậu giật mình tỉnh giấc nghe đau
Quái
Sao vẫn còn người điên không mất trí!?

Lặm tình!
Gã quê bái núi
Nghe đồng dao vỡ vụn
Gọi mục đồng nhắn gởi đôi câu
Bụng đói
Rì Tắc suôn trâu bức mũi em à!

Lạy quê
Cơm đùm khăn gói
Lừng khừng đứng giữa ngả ba
Bói miệng

Đi
Chữ mô cũng đều ưng bụng
Mà sao nước mắt lưng tròng…

LT

Phạm Tấn Dũng

Nghịch sông
 
 
Nhiều năm sau
Nhưng chỉ một chiều
Trên đôi cánh tay hiện rõ những dòng từ sông lớn
Căng phồng và chảy ngược
 
Những dòng sông nóng
Chở theo tóc râu sương sớm trên dốc nắng
Chở niềm xanh thả rớt dọc đường
Chở tiếng hát thôi nôi buổi sáng thả vào gương sen buổi chiều
 
Những dòng sông rần rật hát giữa lời câm
Rần rật khóc khuya
Rần rật những mạch ngầm âm ỉ đi trong mình
Nhưng không thấy mình
 
Những dòng sông bây giờ quấn chặt hơi thở
Phả vào mưa!
 
Chiều nay…
Đôi cánh tay ghì ôm
Những dòng sông chảy ngược
Du du
          dẫn dẫn
                       trong anh!…
 

Tin tu Ly Doi

Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn: Tặng 18.200 cuốn sách và tạp chí Từ giữa năm 2007, Viện Nghiên cứu xã hội (Viện NCXH) TP. HCM đã tiến hành các thủ tục để nhận 18.200 cuốn sách và tạp chí của nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn (Canada) trao tặng. Đây là phần lớn số sách được trích ra từ tủ sách gia đình của nhà nghiên cứu này. Sáng 22/9 tới đây Viện NCXH sẽ tổ chức lễ ra mắt thư viện chứa số sách trên tại 149 Pasteur, Q.3, TP. HCM. Chúng tôi có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Thị Hậu, Phó Viện trưởng. 
 * Đến nay thì mọi việc xem như đã tạm hoàn tất, từ buổi lễ ra mắt thư viện sách của nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn trao tặng, cá nhân chị đánh giá số sách này như thế nào?-
Nói đúng là Viện NCXH tổ chức lễ tiếp nhận số sách được ông Nguyễn Tiến Văn tặng. Đáng lẽ lễ tiếp nhận phải được tổ chức từ sớm hơn nhưng đến nay, việc xây dựng trụ sở cơ quan mới hoàn tất nên mới tổ chức được. Theo tôi đây là một khối lượng sách lớn và có giá trị trong nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn.
* Có khoảng bao nhiêu cuốn hoặc bao nhiêu tấn tất cả? Chị có ước đoán được số tiền mà chủ nhân của số sách đã bỏ ra mua không? -
Hiện chúng tôi đã thống kê được 18.200 cuốn sách và tạp chí. Thiệt tình tôi không thể ước đoán được số tiền mà chủ nhân đã bỏ ra để mua số sách này. Tuy nhiên tôi biết rằng sách ở nước ngoài rất đắt, nhất là các bộ từ điển bách khoa và chuyên dụng. Điều quan trọng là chủ nhân đã bỏ nhiều công sức để tìm mua những cuốn sách hay, có giá trị từ nhiều nguồn, nhiều ngoại ngữ và nhiều nước khác nhau, trong suốt một thời gian dài mấy chục năm. Đó là cái mà không thể tính bằng tiền được.
* Chủ đề chính của số sách này là gì? Bên chị đã phân loại chưa, hay còn để ở dạng bảo quản chung? -
Đây là một số sách khá lớn, tương đương một thư viện vào loại trung bình ở Việt Nam hiện nay. Do thời gian qua chúng tôi chưa có điều kiện để phân loại cụ thể. Hiện mới phân loại theo ngôn ngữ (Anh: 17.102 cuốn, Hoa: 803 cuốn, và các ngôn ngữ khác; và theo chủ đề (sách công cụ, như từ điển các loại: 591 cuốn, sách nghiên cứu: 17.399 cuốn, tạp chí: 210 cuốn). Và tạm sắp xếp vào một kho sách mới, riêng biệt, để tiến hành bảo quản bước đầu và sẽ lần lượt làm các công tác nghiệp vụ thư viện.
* Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn chủ động tặng số sách này, hay bên chị chủ động nhận, vì ông ta cũng muốn tặng từ trước đó 1-2 năm nhưng một số cơ quan ở Việt Nam không chịu nhận?
- Qua một người bạn tôi được biết ông Nguyễn Tiến Văn có nhã ý tặng một số sách nghiên cứu cho một viện nghiên cứu hoặc trường đại học trong nước. Tôi không biết đã có cơ quan nào chưa hay không muốn nhận, nhưng khi tôi báo cáo việc này với ông Viện trưởng Viện NCXH, PGS. TS. Phan Xuân Biên thì được sự chỉ đạo là tìm cách liên hệ với ông Nguyễn Tiến Văn để nếu ông Văn đồng ý thì sẽ nhận số sách này.
* Từ khi sách được chuyển bằng container loại lớn về cảng Cát Lái (Q.2, TP. HCM) đến nay là khoảng bao lâu rồi?
- Tháng 4/2007 chúng tôi nhận được giấy báo có lô hàng 300 thùng sách từ Canada gửi về, tại cảng Cát Lái. Ngay sau đó chúng tôi tiến hành làm các thủ tục để nhận lô hàng này. Hoàn tất các thủ tục và nhận hàng mất gần 2 tháng. Sau đó vì chưa có chỗ để nên phải gửi tạm tại một cơ quan bạn, nay mới đưa về trụ sở của viện.
* Thủ tục để nhận số sách này có khó không? Tại sao bên viện của chị lại chấp nhận làm một việc được xem là có tính “nhạy cảm” và gần như “hi hữu” này?- Thủ tục nhận số sách này không khó, nhưng hơi lâu, vì đây là lần đầu tiên có một lô hàng nhập đặc biệt là sách nghiên cứu đã qua sử dụng. Vì vậy cũng cần làm một số văn bản giải trình và đề nghị với UBND TP. HCM và các cơ quan chức năng như Hải quan TP. HCM, Hải quan cảng, Sở Văn hóa Thông tin, Phòng Kiểm tra xuất nhập khẩu văn hóa phẩm (thuộc Sở Văn hóa Thông tin)… Chúng tôi đã được sự chấp thuận và giúp đỡ của các cơ quan này nên đã nhận được lô hàng khá suôn sẻ. Là một cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, chúng tôi nhận thấy đây là nguồn tài liệu rất hữu ích cho công việc hiện nay và về sau, cho nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu không chỉ ở TP. HCM. Vậy nên có cơ hội thì chúng tôi cố gắng để có được nguồn tài liệu quý này.
* Thư viện hiện nay có đáp ứng đủ không gian và chất lượng khai thác cho số sách này không? Hay bên chị đang chờ một kế hoạch mới?
- Tại Viện NCXH cũng có một thư viện nhỏ. Nay có thêm số sách này thì mặt bằng hiện tại, cũng như trang thiết bị chưa đủ để khai thác nguồn tư liệu này. Chúng tôi đã trình UBND TP. HCM kế hoạch xây dựng thư viện của Viện NCXH với những trang thiết bị tốt hơn, hiện đại hơn, để có thể khai thác và phục vụ có hiệu quả hơn.
* Viện NCXH trước đây là Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn TP. HCM. Nhưng từ 1/10/2008 tới đây Viện NCXH sẽ hợp nhất với Viện Kinh tế và Viện Quy hoạch đô thị thành Viện Nghiên cứu phát triển TP. HCM. Vậy khi hoàn chỉnh việc hoạt động của thư viện này, đối tượng nghiên cứu hay tham khảo số sách này, bên chị có dự trù được chưa?
- Có lẽ phải mất một thời gian nữa để thực hiện các nghiệp vụ thư viện với số sách này thì mới có thể phục vụ bạn đọc. Đối tượng là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các cán bộ, giảng viên, sinh viên có nhu cầu. 
VĂN BẢY thực hiện 
Box: Nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn từ chối trả lời phỏng vấn về sự kiện này, ông chỉ nói như vầy: “Tôi thấy mình cũng đã lớn tuổi rồi, sức sử dụng số sách chuyên ngành này đã bắt đầu suy giảm, tôi muốn được chia sẻ nó với nhiều độc giả khác, nhưng nếu tại tư gia ở Toronto (Canada) thì rất khó, vì ở đó các thư viện công cộng rất phong phú và khổng lồ. Tôi muốn tặng cho các bạn đọc ở Việt Nam và rất vui khi Viện NCXH đã đồng ý tiếp nhận. Tôi chỉ hi vọng một điều là sẽ có nhiều người đến tham khảo và chia sẻ các thông tin mà thư viện nhỏ này có thể cung cấp được”. 

 

Nói hộ phù du – Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồn sinh

Liêu Thái 
Anh đã sống ở một phương trời xa lắc xa lơ quê nhà, những câu thơ anh bắt gặp cũng mang một màu da khác. Nhưng dường như đâu đó nơi khuất lấp tâm hồn, những đồng vọng của hôm qua vẫn còn đọng lại trên đỉnh chữ, âm ỉ chảy thành lời trong cuộc dấn tồn sinh…
Trong những người cầm bút, sáng tác thơ của Điện Bàn và Quảng Nam,có thể nói rằng làm cho thơ hay thì không phải ít, nhưng làm cho mới thơ thì quả thực đếm trên đầu ngón tay. Đất Quảng Nam vốn nằm trên bản đồ những miền đất yêu thơ, “làm cách mạng thơ”… Nhưng đó là chuyện của một số quá ít ỏi những con người có ý thức tìm tòi cái mới. Dường như phần còn lại là những nghệ sĩ thị trấn, tỉnh lẻ khư khư ôm cái cũ, tiếc nuối cái mà lẽ ra nó đã được yên vị trong viện bảo tàng… Đào cái cũ, hòng làm mới lại nó chẳng khác nào việc chăm sóc một xác chết với hy vọng nó tươi rói và tiếp tục nói chuyện (hoặc chí ít thì nó cũng “thị phạm” được những gì nó từng nói trong quá khứ!) là một chuyện hi hữu và vô bổ. Nhưng người ta đã làm và làm không ít! Chưa bao giờ khái niệm Truyền thống lại đủ vững mạnh và sức sống như tình trạng văn nghệ tại cái tỉnh nhỏ bé – khúc ruột miền Trung như bây giờ. Có lẽ do vậy mà bất kỳ một người cầm bút nào có ý thức cách tân đều để lại một ấn tượng nào đó trong bạn đọc và thi hữu. Nguyễn Hàn Chung cũng nằm trong số ít ỏi này. Dường như ý thức cách tân vốn đã có từ rất sớm, manh nha trong Tìm tôi trong bóng và hiện rõ hơn trong Nói hộ phù du. Tuy không triệt để, nhưng chí ít anh cũng có một thái độ khước từ những giá trị sáo mòn và tìm một lối đi mới. Một lối đi có nhiều gai góc, cạm bẫy trong cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về hiện hữu.
Tôi tin loài phù du bị hàm oan
bởi kiếp tồn sinh quá ngắn
Nếu không hiến đời mình bằng
đường bay ánh sáng
Sao kịp thành thiêu thân?
Cuộc chạy đua nào không vòng quanh
Nhưng chỉ cánh phù du biết
làm sáng lên ngọn lửa
mới mong chiết ra chất tinh ròng.
(Nói hộ phù du – NHPD)
Nếu không hiến đời mình bằng đường bay ánh sáng/ sao kịp thiêu thân? Hỏi nhưng mà cũng là trả lời. Trả lời bằng chính sự bất lực, bất khả giải của một hiện tượng không phải là của con người nhưng lại có sức biểu cảm, chở thân phận con người trên “đường bay” của nó. Phải chăng hiến (dù trên phương diện nào) là một bất khả kháng trong cõi tồn sinh, là một khả thể trên lộ trình bất định của sinh – thành – bại – diệt? Và hành vi hiến cũng là trạng thái tìm về bản thể hư vô mang nặng bản năng, định mệnh hơn là lí trí, dự tính?! Dường như Nói hộ phù du nhưng cũng là nói hộ ai đó đã, đang đi qua mặt dất này, nói hộ ai đó cũng là đang nói hộ mình, nói hộ mình cũng là đang nói hộ cho im lặng, nói hộ cho im lặng cũng là đang nói hộ cho cát bụi vô thường! Ở đó, người nghệ sĩ bắt gặp cái hữu hạn giữa cái hư vô và cái không cùng giữa cái nhỏ bé mong manh, ý thức cộng sinh, dun rủi con người tiếp tục đi tìm để tái sinh, sáng tạo ra mình thêm lần nữa trong ý nghĩa phù du…
Em múa những đường mây của trời
trong đất nung
qua gió mưa từ bấy
những chùm rêu chưa kịp tỏ tình
em múa đến bao giờ vậy
thần SiVa lặng thinh…
(trích Với người vũ nữ Chăm trên tháp Mỹ Sơn – NHPD)
Dường như đó là lời tự luận, tự vấn, tự trấn… những ý hướng thường thấy trong thơ lãng mạn. Tuy nhiên, sự phản tỉnh đã được thổi vào đó hơi hướm của thời đại, sinh khí của hiện đại bởi âm hưởng lãng mạn có dính những hạt li ti ngôn ngữ siêu thực thông qua kĩ thuật ngắt dòng, định vị từ và sử dụng nhiều hình ảnh mới (tuy rằng chất liệu và chủ đề hoàn toàn không có gì mới mẽ) đậm tính phồn thực, hiện thực huyền ảo của thi ca trong đất nung, qua gió mưa, những chùm rêu chưa kịp tỏ tình với thế giới quanh nó, với cơn khát thèm được sống đang cháy mãnh liệt bên trong nó… Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ – một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…
Nhận tặng vật của đêm
Biết không còn yên ổn
Món quà rẻ rúng khao khát kia!

gã tình quất ngựa truy phong
đứa bé đói bấu ngực cha tìm mụn vú
đêm có tội tình chi…
(trích Biến tấu đêm – NHPD)
Ý thức tha nhân, ý thức về nỗi đau nhân tình thế thái, ý thức về những hệ lụy của đời sống luôn là niềm day dứt khôn nguôi trong thơ anh, dường như ở đâu người đọc cũng bắt gặp những dòng thơ mang mang nỗi buồn thế sự, âm âm một mối cảm hoài về sự yếu đuối, bất lực của sự sống trước qui luật khắc nghiệt thời gian, trước những tàn phai và phụ rẫy, trước những hy vọng và bi thảm khôn nguôi… Những dòng ý niệm bên trong được thác vào một cấu trúc ngôn từ mở rộng mang tính đa chiều được định dạng bởi kĩ thuật ngắt dòng tự do, đột ngột, tạo độ trường cấu tứ và ý niệm, mở ra không gian đa chiều kích của thơ.

Người đàn bà hết duyên
vắt lòng đẻ ra những đứa con bụ bẫm
rồi lặng lẽ gục giữa tro than
níu những giọt mưa kì ảo của thế gian
nước mắt không còn đủ ấm
những lời ca vẫn bay thấu địa đàng.
Những chuyến tàu cắm vào thời gian
không ga nào đỗ lại
chồi non ra hoa rồi kết trái

nghiến lên đường ray
vĩnh hằng khúc tráng ca.
(trích Dưới mưa – NHPD)
Dường như khi đọc những bài thơ trong Nói hộ phù du, tôi có cảm giác vẫn còn thấp thoáng những hình ảnh, ý tứ, không gian tâm lý của Tìm tôi trong bóng. Và điều này ít nhiều tạo cảm giác khó chịu về tính liên văn bản hơi “sống” của những tác phẩm thơ anh. Tuy nhiên, đây cũng là “căn bệnh” không thể tránh khỏi của bất kì một người nghệ sĩ nào trên con đường sáng tạo. Vấn đề nằm ở chỗ mức độ và dung lượng phản chiếu của cái cũ (do chính anh tạo ra) lên cái mới đậm hay nhạt, khả dĩ chấp nhận được hay không và tạo ra hiệu ứng nào cho độc giả. Với Nói hộ phù du, vẫn còn âm vang đâu đó cái âm hưởng của Lãng mạn – Nhân văn, vẫn còn khuất lấp nơi ngóc ngách của “căn nhà mới” một cái bóng của ca dao, dân ca, vè bởi nỗ lực làm mới lục bát bằng cách tận dụng tối đa vần lưng, tạo nhịp theo một qui thức hoàn toàn mới: 2 – 2 – 3 – 1; 4 – 2 – 3 – 1; 5 – 3 – 1; 1 – 1 – 5 – 1…
Đó cũng là cách chơi khá mới mẽ của anh trong lục bát – một thể thơ cũ và dễ dẫn đến sáo mòn cho người sử dụng, khai thác, đó cũng là cái bẫy. 

Nếu như cái vẻ nhu mì
Rớt về ta đạn bom thì…hiểu không?
Muốn cho biển lặng trời trong
Thì thôi, gửi gió bế bồng, thế thôi!
Phải chăng có những kiếp người
Suốt đời lấy cái xa xôi làm gần.
(trích Tự thức – NHPD)

Chưa bao giờ tới Pleiku
Mà sao nhớ quắt quay như nhớ nhà
Nhớ làn môi bỏ bùa ta
Nhớ con mắt hạt dẻ già đắm sông

(trích Nhớ Pleiku – NHPD)
Với một dung lượng mỏng, chi phối không đáng kể trong toàn tập, nhưng lối viết thả lơi cảm xúc chảy theo dòng tự nhiên, không gắn gượng áp đặt một cấu tứ nhất định nào lên tác phẩm – viết automatic – giúp cho tập thơ có những khoảng rơi, những khúc phiêu dẫn dụ cảm giác vào một cảm quan mới lạ, thuần tính và chứa sức nặng suy tư… trong không gian mở của thơ văn xuôi, thơ hoạt tính…
Giọt trời xanh không ngoái lại cuối sông, cửa Đợi đang chờ. Đại ngàn lốm đốm lá vàng tơ theo con nước dập dềnh sóng vỗ. gặp Vu Gia sông chia đôi nhánh ghé Điện Bàn tắm táp vườn dâu. Tiếng thoi đưa lách cách đuổi nhau. Sự sống bừng bừng tở mở…
(trích Thu Bồn – NHPD)
Những chùm rêu bầu bạn áo xiêm em, cuộc hôn phối thời gian và cổ tháp. Điệu múa ấy làm hồi sinh phế tích, trong vô thanh phản phất nét ca Chàm. Cỏ bàng hoàng từ mấy trăm năm, em vẫn múa sá chi màu dâu bể. Đã tro bụi những hoàng triều chuyên chế, mọi trò chơi phù phiếm bậc quân vương. Người về đây để được tái sinh em, sự già cỗi hóa thanh xuân quyến rũ. Những gót nhảy tay xòe hông múa, không dễ tìm đâu trên thế gian này. Đừng hao mòn vì một thoáng mưa mây, Chiêm nữ ạ! Em vĩnh hằng tĩnh tại. Cứ vũ lộng hồn em đi, cô gái, thời gian xanh quì rạp trước em thôi.
Đừng bắt những chùm rêu phải nhận chịu đổi dời, xin van vỉ kẻ nguôi lòng cổ tích. Tôi muốn hóa thành rêu để ôm em thật chặt, mốc meo nhau ngôn ngữ không lời. trong hoang tàn diễm lệ…
(trích Mỹ Sơn – NHPD) 
Dù đứng ở góc độ nào, triển hạn trên phương diện nào nhằm tạo ra những mới lạ trong thi pháp, cấu trúc, ngôn ngữ thơ, vẫn bàng bạc đâu đó một dòng hoài niệm lẩn khuất dưới đáy câu chữ, bên trong những vỉa từ của Nói hộ phù du. Có lẽ sự bắt gặp nhiều nhất trong thơ Nguyễn Hàn Chung không nằm trong hình thức mới lạ và cũng không khu biệt trong những nỗ lực thay đổi hệ qui chiếu của chủ đề mà lại hàm chứa dáng dấp, chân dung của một con người luôn tha thiết sống, tha thiết yêu, tha thiết đau và cả tha thiết đón nhận nỗi đau như một người bạn cưu mang trong đời sống vốn mang nhiều hệ lụy và phi lý.
Phía trái căn nhà tôi ở
Có ông lão già quắt queo
Các con chia nhau vạt đất
Chia cho ông vạt nắng chiều
Phía phải căn nhà tôi ở
Có người đàn bà năm con
Mỗi con có riêng một bố
Bơ vơ đến sáu linh hồn
Phía trước căn nhà tôi ở
Lấp ló mươi nàng mắt xanh
Có người đạo cao như núi
Đến đây cũng biến mất hình
Phía sau căn nhà tôi ở
Có lối thông ra bến ngang
Tôi rủ chiều ra sau ngõ
Ngó đăm đắm lũy tre làng
Không thể chia lòng bốn phía
Nên còn nặng gánh đa đoan.
(Cạnh nhà tôi ở – NHPD)
Và viết, sáng tạo giống như là hành vi khẳng quyết sự tồn tại, khẳng quyết những bất an, trăn trở tử sinh được kí thác trên ngôn ngữ để rồi trả nó về với gió bụi không cùng. Khi những lời phù ảo bay lên, cũng là lúc người nghệ sĩ đối diện với bản ngã lao lung trên những bước hành hương dõi tìm diện mục, dõi tìm bóng dáng chân như… Và, trong mỗi sát na đi qua thường hằng sự sống, những câu thơ gắn trên hệ lụy đời người như một thoại đầu bất tận. Những nhận định chỉ mang tính chất võ đoán (nhận định của tôi cũng không nằm ngoài qui luật này) và làm rối mù hiện hữu. Nhưng dẫu sao, người đọc vẫn có quyền suy ngẫm, ôn lại những ấn tượng còn chìm khuất trong sương mù kí hiệu và bản ngã, dấu hiệu và tồn sinh, hiện tượng và vô cùng… như một lời tri âm trên mặt đất hoang vu này!
Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo.  
 
 

Phác lộ

                                                        Nguyễn Hàn  Chung

Phác lộ anh thiên tài cống rãnh
bủng beo em thời gian
rồi cũng trôi qua một đận bầm dập
mong ngóng nỗi gì

cái gì đến đã đến sẽ đi
cái gì đi đã đi sẽ đến
rốt cục tàn hơi tỉnh thức
quay về hú vang câm tức ngực
 
mụ người khói cay con mắt
không một ngụm rượu mà giọng cứ nhừa nhựa ủ ê thở hắt cớ sự lên bàn phím
ký tự bấu vào nát tan
cập nhật hóa ngai thờ đoạn trường cống rãnh

Phác lộ em những đường cong phập phù hằng cữu
sướng thiên thu  cây cỏ không biết buồn
ái ngại những đợt trận  phồn hoa phủ bùn lên nội y
con cúi
em à em

khói thuốc có  trù yểm  rù quyến được ai đâu
mà hăm hở đốt đền
anh sần sùi hét toáng lên cho đỡ mỏi chứ nào dám xa em sợ vung vãi tình yêu gây tội tình lũ nhóc
nỗi buồn  chó điên sùng sục cắn cấu vết thương vừa kéo da non
phác lộ mùa thu mòn  con đường giãy giụa
đừng trưng ra nữa quên đi đủ rồi

phù du làm sao mà nở bông huống hồ đòi đậu trái
chẳng qua bụi bẩn nhét đầy
giấc mơ anh mang máng có em
bao giờ cũng đến đi vô tăm tích

Phác lộ yếm em một giây huyền ảo
che chắn nỗi buồn ngập ngụa
tất thảy
ngai thờ cống rãnh
biến mù đi

August 8/08
 
 

Cuộc sinh tồn thon em

                                  
                           Nguyễn Hàn Chung

Cuộc sinh tồn thon em
trói chặt gã đàn ông ứ nhớ 
bầm uất không xuất
cơn mê dính chặt vào thân

Không có thơ
gâu gâu nỗi buồn bảy món
lũ hoạnh tài háu ăn

Chống mắt xác tín những lần giảo nghiệm húp chan
đời anh đời em đắng chát
vô vị vô vọng không lẽ vô vi
lấy gì phà vào sâu hun hút
đồng tiền bén ngọt cứa vào nhân luân mê hoặc

tất thảy mọi bộ phận không ngoại trừ

A men

Không đủ đảm lược nói mắt huyền tóc mơ chán chết
tất nhiên biết uế tạp
u mê anh cứ ham đeo đuổi cơn động dục lâm bồn

mặc em vun vào thánh thiện

mãn nhãn chớp tắt
còn hơn một đời lu câm
Trước khi thánh phải là người
dẫu trong tận cùng thực tướng
dẫu ngày thiên địa chuyển sát
dẫm lên húy kị  bươn rớt  chấp  chịu
đâu dám bỏ bê cuộc sinh tồn thon em

July 12/08