Nhặt mảnh vụn cơn đau quá vãng giữ ấm lòng linh lạc

(nhân đọc Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh –Hợp Lưu 2009)
Nguyễn Hàn Chung
Ấu thời khi còn làm anh giáo dạy văn ở một góc xó xỉnh quê nhà Quảng Nam- Đà Nẵng tôi đã có dịp đọc văn thơ Phan Xuân Sinh trên các tạp chí văn học và các website hải ngoại nhưng chưa hiểu văn và người anh nhiều .Khi tôi đến nước Mỹ  sống ở Houston – Texas có dịp quen biết anh ,vì thế đối với sự thẩm thấu văn thơ anh tôi làm sao có đủ lực  soi tỏ, cạn cùng như hai bậc đàn anh thâm giao với anh như nhà thơ Trần Doãn Nho và  nhà văn Lương Thư Trung trong lời  tựa và đề bạt ở trang đầu và trang cuối tập truyện. Nhưng chả lẽ cảm mà không thấm, thôi thì tôi  xin bộc tỏ  một ít cảm quan của mình khi thâm nhập và cố gắng chiếm lĩnh hồn vía văn Phan Xuân Sinh .
Sống với thời quá vãng không đồ sộ hoành tráng mang tính sử thi nhưng ngồn ngộn chi tiết hiện thực sống động.Bất kỳ loại thể văn học nào anh  đều đào sâu suy tư tìm hiểu,khai phá các vấn đề lịch sử ,dân tộc ,con người. Những nhân vật của anh được đặt trong mối liên hệ phối thuộc trong quá trình tác giả và nhân vật tham dự một cách tích cực .Đôi lúc đọc văn anh dường như người đọc cảm được cái giọng Quảng ngay thật mà riết róng ,nỗi phẫn nộ cố kìm nén mà vẫn bật thoát ngoài con chữ ( Cơn đau không dứt, Một giai đoạn ngậm ngùi). Ta thấy rõ anh không chuyên chú làm văn chương,mục đích của anh là nhặt và phơi những đoạn đời, những mảnh  vụn xa khuất làm chất xúc tác cho người đọc.Người có tuổi tìm trong hồn chữ mênh mang những niệm khúc ngày quá vãng,người tuổi trẻ sinh sau đẻ muộn có thể hiểu được nỗi lòng  bạch đầu bi phẫn cha ông .Nhưng cũng chính vì không chuyên chú làm văn chương tự thân những mảnh vụn ngậm ngùi anh kể lại bất chiến tự nhiên thành đã là văn chương đích thực bởi văn chương nào lại không đánh động trái tim con người. Trong nhiều truyện hoặc bút ký anh ráng làm ra vẻ khách quan tỉnh táo khi kể, tả tình tiết diễn biến câu chuyện nhưng đàng sau những câu chữ ngỡ như trung tính ấy  người tinh mắt sẽ mau chóng nhận ra trái tim dịu dàng nhân hậu  tràn đầy yêu thương  nhân ái của một nhà thơ(Khi con đường không lối thoát)( Một niềm vui ) .Bút pháp anh sử dụng trong hầu hết các truyện và bút ký mang đậm chất hiện thực ,ở  một đôi bài tính chính luận xen kẽ với hiện thực phô bày cảnh và người sống động đậm nét trong lần quy cố hương của anh (Sống với thời quá vãng).Ngôn ngữ đối thoại trong văn anh là kiểu trò chuyện giản dị ,đậm tính phương ngữ thỉnh thoảng ta còn bắt gặp lối độc thoại  nội tâm  dẫn dắt người đọc đồng cảm với anh về cách hành xử của các đối tượng được anh đề cập trong tác phẩm Gió bụi một hời -Nhặt lại những mảnh vụn .
Có thể nói Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh là một bức tranh chân thực về lịch sử ,con người một thời,  tái hiện  sắc nét  chiều sâu tâm tư của tác giả .Cảnh và tình người cũ và  người mới ,chiến thắng và chiến bại rốt cục trước  niệm thiên địa chi du du vô chung vô thủy của thời gian cũng chỉ là những mảnh vụn chìm sâu trong ký ức.Tác giả nâng niu gìn giữ nó để người đời sau còn biết  có gió bụi một thời rót về phương mô.Anh Trần Doãn Nho đã nghĩ chín, anh Lương Thư Trung đã ghi sâu về cái đẹp ,cái đáng trân trọng của Sống với thời quá vãng . Riêng tôi, với tư cách độc giả , tôi chỉ làm một việc dễ hơn hai anh nhiều : Phát biểu cảm nghĩ cá nhân  về những điều tâm đắc rút ra từ tập truyện . Còn chiều sâu tác phẩm,nội hàm ẩn tàng trong thi pháp tác phẩm còn chờ đợi nhiều  ở sự thẩm bình của các anh chị văn thi hữu xa gần  .Tôi khao khát một sự thâm nhập, chiếm lĩnh tác phẩm và chia sẻ với anh Sinh về đứa con tinh thần  anh đã trăn trở ,quặn thắt, tâm sự ,giải bày  từ một đời chiến chinh ,thăng trầm,lưu lạc .  .                     Có một điều tôi muốn nói rằng bao nhiêu cuộc chau mặt với tang thương -luống đoạn trường khi chứng kiến cảnh đó người đây  trong Sống với thời quá vãng đâu chỉ  có một mình tác gỉa họ Phan .Còn đồng tác giả  chúng ta  tuy vết thương đã liền da liền thịt nhưng dấu cắt vẫn còn đau  .Đọc tác phẩm và đồng sáng tạo với tác giả theo tôi thiển nghĩ đó cũng là tâm nguyện của bất cứ nhà văn,nhà thơ nào.  .
Houston   November 12 ,2009

Trước tượng thần Venus

Nguyễn Hàn Chung

Biết em chẳng còn xương

Tôi còn mơ da thịt

Biết em tàn như sương

Tôi còn mơ cuống quít

Tôi góp vào mê muội

Một câu thơ thậm tồi

Em chỉ còn chút bụi

Tôi lại còn không tôi

Biết em chẳng còn tro

Tôi còn mơ mùi tóc

Lũ tôi còn nheo nhóc

Trên một giàn đồng ca

Nhập mơ vào vĩnh cữu

Lao lư chuyện buông tuồng

Không nghĩ mình nhếch nhác

Chỉ âm trầm văn chương

Tôi biết mà không biết

Em không mà biết không

Màu xương hay mùi tóc

Cũ càng hay mới toanh?

4/11/2009

Bốn mươi năm mang mang hồi ức

Nguyễn Hàn Chung

Những năm  sáu mươi  khi bọn học trò xứ Quảng chúng tôi tập tò làm thơ có một bài thơ mà  hầu như đưa nào  cũng đều ưa thích  và thuộc nằm lòng.Đó lá bài Xa Cách của Châu Liêm mà  ngày  ấy chúng tôi cho đến hơn bốn mươi năm sau cũng không biết tác giả là ai. Tình cờ mới đây  đọc trên Website Da màu tôi mới tỏ tường  Châu Liêm là một trong những bút hiệu của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp  hiện đang sống ở Dallas Hoa Kỳ.Tôi không còn một văn bản  viết nào đành ghi lại bài thơ theo trí nhớ :

Xa cách

Châu Liêm

Hai dặm cát vàng duyên nối tiếp

Đôi bờ sông rộng mặc ai đưa

Tôi đâu dám bảo Trường giang hẹp

Chỉ hận nghìn năm với bến bờ

Đêm ấy người đi sương xuống lạnh

Trăng mùa tiễn biệt sáng mông lung

Tôi đâu dám hẹn ngày tương ngộ

Người khóc đêm nào người nhớ không?

Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng!

Ai tiễn ta qua vài bến nước

Với hai sào gió bốn sào trăng

Ai tiễn ta rơi vài giọt lệ

Lệ chảy đầy trong đôi mắt trong

Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông

Ấu thời đọc bài thơ nầy chúng tôi mê mẩn ghê lắm bởi cái âm điệu trầm bình mà bi tráng của phong cách thơ .Tống biệt hành ,Hành phương nam, tất nhiên trên cả tuyệt vời rồi nhưng Thâm Tâm và Nguyễn Bính tên tuổi lớn quá còn anh Châu Liêm nầy mới toanh  chúng tôi nghĩ có khi xấp xỉ tuổi mình cũng nên lại  có những câu  thơ phấn hứng đến chết người :

’Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng’’

Không khí ‘’Thử địa biệt Yên ,Đan-tráng sĩ phát xung quan –Tích thời nhân dĩ một –Kim nhật thủy do hàn của Lạc Tân Vương như đồng hiện khiến bon trai thời loạn chúng tôi ngứa ngáy tâm can nhưng là sự ngứa ngáy nâng con người lên một tấm cao mới khao khát hướng tới cái lớn lao đích thực mở ra những chân trời cho sự thấu hiểu bằng sự tiếp nhận duy cảm .Những hình tượng thơ thi vị hóa  , lý tưởng hóa  ,cách điệu hóa  mang tính quy phạm  thẩm mỹ của chủ nghĩa cổ điển được tác giả sử dụng xuyên suốt  trườn theo bố cục có sức níu kéo lòng người như các hình ảnh ‘’người đi sương xuống lạnh- trăng mùa tiễn biệt -hẹn ngày tương ngộ -trong đôi mắt trong…’’ .Có thể những hình tượng và ngôn ngữ ấy bây giờ đã quá sáo mòn đến mức người làm thơ lách nó như lái xe lạng lách  các ổ gà chứ thập niên năm, sáu  mươi còn rất thời thượng cuốn hút trái tim các ‘’Tuấn chàng trai nước Việt ‘’đến rứt không ra kia được

Nhưng ma lực của bài thơ dường như không phải các hình ảnh ước lệ ấy , kỳ lạ thật hình tượng thơ  từ trong rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san cũ kỹ lại bước ra rũ phong sương nhấn nhá bằng một số từ mang phong cách hiện đại

.Tôi muốn nói đến từ mông lung trong cụm từ sáng mông lung, từ xế, trong cụm từ  đời xế nửa và nhât là từ quấn trong hai câu thơ cuối cùng;
’Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông’’

Động từ quấn bình dị dân dã  mở đầu đoạn kết lại có độ hút mà trộm vía tác giả  tôi thiển nghĩ chính anh cũng đâu có ngờ trong suốt  hơn ba mươi lăm năm làm người thầy giáo dạy văn tôi đã dẫn dắt các em học sinh chuyên văn quê nhà bình  nhãn tự trong các câu thơ ấy. Tôi đã cho các em đưa  từ xế,quấn vào trong một trục với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa chẳng hạn để thay thế cho các từ ấy nhưng các em và cả người thầy đều bất lực .Tôi không nói ngoa Các từ ấy cũng giống như từ lẻn trong câu thơ Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào trong Truyện Kiều nói như Đỗ Lai Thúy đúng là con mắt thơ không có một từ nào khả dĩ có thể thay thế mà không làm đứt mạch hội ngộ văn chương của người đọc.Tôi nghĩ không ra làm sao một cậu bé học lớp đệ nhị mới mười sáu tuổi ( *l)ại có thể sử dụng từ ngữ điêu luyện dường ấy.Phải chăng  đó là của trời cho và tác giả với tư cách là người sáng tạo vẫn nằm ngoài hệ thống  với các mối liên hệ nghệ thuật  :Người chủ xướng và người đọc cũng chỉ đóng vai trò tham dự mà thôi .

Có những bài thơ tác giả là những nhà thơ lớn ,ngôn ngữ thơ hàm súc  đặc dị,chứng tỏ tác giả uyên bác và trí tuệ cao nhưng sao người đời lại không nhớ mà kỳ lạ bài thơ Xa cách của Châu Liêm tuy không có nhiều sáng tạo về mặt thi pháp nhưng chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ được  vượt qua được một độ lùi của thời gian chiếm lĩnh và tái tạo hình tượng ngôn từ trở thành hình tượng tâm tư trong lòng người đọc gây hiệu ứng tiếp nhận  bền vững trong lòng tôi và bè bạn một thời ,một đời…

Cái cực sướng nào rồi cũng nhanh chóng qua đi tại sao cái cực sướng văn chương cử đeo dai đeo dính chúng ta  đến mỏn đời làm vậy.

Tôi cũng không biết nữa…

Sugarland City

November 1.2009

(*)Sau này khi có dịp gặp anh Nguyễn Xuân Thiệp tôi mới biết bài Xa cách được anh viết năm hoc đệ nhị  trường Quốc Học  Huế  lúc  mới  mười sáu tuổi.Anh cũng không còn nhớ nguyên vẹn đứa con xa cách bốn mươi năm của mình…

Chim bỏ đàn xa xứ ôm nỗi nhớ tàn phai

Nguyễn Hàn Chung

(nhân đọc tập thơ Đứng dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh)


Có người cho rằng mạch thơ trong Đứng dưới trời đổ nát của Sinh ít tung tẩy chữ nghĩa như một số bài thơ của anh sau này.Tôi không nghĩ thế ,đọc hết tập thơ ráng căng con mắt thấu thị nhìn vào trong vỉa từ thơ anh tôi cảm thấu trong nội hàm ẩn chứa nhiều phong vị .Trước tiên là phong vị cổ thi’’ta.Trời tây mỏi mắt-người Trời đông chau mày-hai phương mà như một –nào đâu người có hay’’(bên kia nỗi nhớ).Tứ thơ  với những hình ảnh ước lệ ngựa hồ ,đất khách  cố xứ ,chân mây sẽ khá cũ càng  nếu anh  không có những câu thơ  khải truyền cho từ một tải trọng đời sống huyết tận’khẽ chạm vào huyệt lộ-bỗng dưng người mất tăm’’’’bóng đè lên thân phận –ta đang chiêu hồn ai?).

Đắm mình trong nguồn mạch văn chương  khí khái hào sảng ngày trước 1975 anh có những bài thơ thấm đẫm hào khí, ngôn từ trong thơ  nhắm vào đối tượng với tư cách ngôn từ thông thường ít nhiều còn mang tính tượng trưng nhưng  mê đồ chữ nghĩa đã biến dị  hiển lộ bản sắc cá nhân với những luận chứng ,luận cứ làm cơ sở của xúc cảm khẳng định lý tưởng hoài bão ôm ấp của mình (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(một đoạn cho Kiều )(gặp lại bạn ta).Những bài thơ ngóng vọng cố hương của PXS theo tôi đã đạt tới cảnh giới thơ khả thơ phi thường thơ bởi lòng anh và hình tượng thơ đã  hòa mạch vào nhau nói như lời Kim Thánh Thán ‘’chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới nữa’’ .Ta hãy nhâm nhi vài ly chữ của Sinh“nửa đêm còn vọng tiếng ai-nghe oan hồn khóc bên tai rã rời-giật mình chỉ biết ngậm ngùi-

làm sao chia bớt với người nỗi đau’’(bay qua đời khói sương)

Câu thơ cuối cùng kết tứ cho đọan  thơ dường như vô hình trung đã vận, đã mắc vào đời anh với niềm trăn trở làm sao gánh vác bớt nỗi đau bè bạn  ‘’chìm sâu ngàn trùng’’ hoặc ‘’lây lất khốn cùng bến mê’’.(Và theo như tôi biết từ  khi anh còn lăn lóc chốn chợ trời cố  xứ hay  sau khi lăn lộn kiếm được chút của nả xứ người bao bè bạn quê nhà đã được anh cưu mang ,đùm bọc mà anh giống như bậc hành giả dù viết cả một tập truyện ký mang mang hồi ức anh vẫn  kín tiếng không hề  thố lộ cùng ai)

Một số bài thơ  trong ba tập thơ của anh nói như lời nhà thơ Trần Doãn Nho trong bài Vài suy nghĩ về ‘’sống với thời quá vãng’’ ‘’đã đi vào lòng độc giả với cái chất hiện thực chan hòa trong lối lý sự  rất riêng ‘’cái lối lý sự giận dỗi lửa rơm  mà hầu như  bất cứ ông nhà thơ Quảng Nam kim cổ nào không mắc cũng là mang:‘’muốn may miệng những thằng láu cá-Bợ đỡ tung hô kẻ bất tài ‘’ ‘’khàn hơi chỉ mặt đứa gian manh-bán đứng anh em chơi trò lừa lọc-núp sau lưng đoạt cuộc tranh giành’’ Giận phường bội bạc , ngòi bút anh tung hoành rót về tứ phương để trút cơn phẫn hận  chứ  ngoài đời anh rất hiền, bạn bè chỉ thấy một PXS chưa hề nặng lời với ai kể cả những kẻ không ra gì…

Những bài thơ viết về vợ của anh rất chân thật và cảm động bởi nó không màu mè dối trá như một số nhà thơ khác .Hơn ai hết  anh cảm thấu người bạn đời

là người ‘’cắn răng chịu đời khổ tận –u uất trong lòng-đắng cay chồng chất’’để ông nhà thơ tự thú ‘’ hư thân, bạt mạng ,cuồng ngông, hoang đàng’’lao tâm khổ tứ chơi cái trò phụng hiến con chữ  mà con chữ hỡi ơi vĩnh viễn hay phù du nào ai biết ai hay.Mảng thơ viết về bạn của anh dàn trải trong nhiều bài thơ ‘’chén rượu tạ lòng bạn hiền-gặp lại bạn ta-nói chuyện với bạn hiền …’’thật sự bộc tỏ lòng anh với bạn’’ta gióng chuông kêu lên tức tưởi-những oan hồn vất vưởng đâu đây-âm dương .cùng ngồi chung manh chiếu-bạn,thù .chia nhau chén rượu đầy..(nói chuyện với những bạn hiền )

Thơ PXS đặc dị ở chỗ có những câu anh viết rất trụi trần không câu nệ ngôn ngữ toàn dân hay khẩu ngữ nhưng vẫn có tính hàm súc cao,từng câu đều có tính độc lập nội tại, nhiều câu có chiều hướng hướng tới tính chất và cấu trúc của  những cách ngôn(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(đêm nằm nhớ Ức Trai)(nói chuyện với những người sinh vào thiên kỷ mới).

Đứng dưới trời đổ nát của  PXS dù vẫn chưa thoát ra mô tip thơ  ngất ngây hào khí vang bóng của lớp trai thời loạn một thời nhưng trong thơ anh trời đổ nát đã tái sinh  với những hình tượng huyễn tưởng đan cài .Đọc thơ anh không  chỉ những  tên đồng thị thiên nhai luân lạc nhân , suốt đời vật vã- chạy vòng quanh kiếm tìm trên bước đời lưu lãng chúng ta hắt hiu lòng vọng nhớ những Giếng Bộng,Đò Xu cũ càng,một Cầu Vồng dốc ngược, bến phà Hà  Thân đã chết mà những bè bạn quê nhà  những kẻ đầu non cuối chợ,búa rìu bổ lên đầu lên cổ cũng tìm trong bóng chữ trong thơ PXS một chút bóng dáng an ủy

trong những năm tháng cuối đời.

Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong  tập thơ Đứng dưới trời đổ nát là  tuy vẫn bám vào các thể loại  cấu trúc của truyền thống cũ  nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu :tình yêu,quê hương, cái chết ,nỗi đau, niềm tin ,chiến bại… Và  một điều đáng để những ai yêu quý thơ PXS lưu tâm  là bất cứ dự cảm nào trong hình tượng thơ anh cũng bộc tỏ phong cách rất riêng của người nghệ sĩ không lẫn vào bất cứ nhà thơ  hải ngoại nào .Phải chăng đây chính là bản lai chân diện mục của hồn thơ Phan Xuân Sinh!..

Viết tại Lầu Cây khế -Houston Texas

Tháng 10/2009

Màu gì mùi gì vĩnh cữu phù du ?

Nguyễn Hàn Chung

Đột nhiên tiếng cơn trốt xoáy hầm hè
căn gác sợ mùa thu  hô biến
tên lái buôn đếm lời  lỗ trong những câu thơ ráo hoảnh
nụ hôn bà lão sướng rân bật rật đến môi anh bầm ngắt
dấu son bải hoải lưu đày.

Nhớ em sặc sụa mùi đau mà không lại  thòm thèm
cái gì bác sĩ dặn dò hút rít phèo phổi tan hoang
anh xơi tái nỗi buồn bằng con khói
huyết áp lần mò huyễn mộng khác gì nhau
chỉ thương chân sáo chân nhồng run rẫy dìu lóng xương lấp gấp.

Bốn mươi năm hơn quen  thói mất rồi
đến buổi hom hem chẳng lẽ  cam tâm  diễn trò nín thắt
cành khế xương gà nuốt ực cái nào đây
thành phố tám làn xe chỏng trơ gốc rạ
soi môi hú ba hồn bảy vía  mông muội ấu thời.

Đột nhiên thực tại tán loạn xà bần
dối trá nhau mà làm gì
những kẻ chuyên nghề bóc tem da thịt
leo lẻo hô hoán  phù du vĩnh cữu.

Ai biết chỉ dùm màu gì mùi gì
vĩnh cữu phù du ?

26/09/09

Thơ cho Isaura của Lê Thu Thùy

Khi còn ở  quê nhà tôi chưa một lần gặp mặt  LTT dù đã biết Thùy từ rất lâu .Khi tôi đã sang Mỹ ,Thùy có gửi tôi rất nhiều thơ và  cả tập truyện ngắn chưa được in ở đâu cả .Thơ Thùy vừa ẩn tàng vô sắc vô tướng của nhà Phật vửa có cái ảm đạm như nhiên của Lão Trang  dù nhiều lần cô vinh danh Thiên Chúa.Cô gái ấy đang chống chọi với bao dư nghiệt của mông muội ấu thời trong vật vã sáng tác .Mời quý bạn vào .(www.lethuthuy.vnweblogs.com) để thưởng thức  lối viết ngông ngạo ,đằm thắm của một cây bút  nữ Quảng Nam .NHC trân trong giói thiệu một chùm thơ trong tập thơ ”Thơ cho Isaura của Thùy.(1991-NXB Đà Nẵng)


Bão
Em muốn đi dạo cùng anh
Trong đêm bão
đầu tiên
Sứ thần nào
đã dọn sạch
những ánh sao đêm
Còn mảnh vỡ
le lói sáng
trong ngôi nhà
ven phố
Cơn bão chưa có
trong lời ru
của mẹ
Đêm nay về
lặng bên nôi
em bé
Tấm áo choàng hai mươi thế kỷ
róc rách
ướt thềm nhà
Đêm
đen
như răng của bà
Những bóng ma
bay lượn
Cơn bão chùng xuống
đậu vào tay em
Em truyền cho anh
giá lạnh
của bão giông
Giá lạnh của hai ngàn năm
trái đất mình
gìn giữ
Có thể
Khi mọi người đã ngủ
Khi mảnh vỡ chẳng còn sáng trong ngôi nhà ven phố
Thiên tử xuống trần gian !

Em muốn đi dạo cùng anh
Trong đêm bão
đầu tiên
Bão thổi vào
từ biển
Mọi nẻo đường
đều ngược
bước chân

19.09.1990

Lê Thu Thủy

hồi ức

Lá bàng rơi
Cơn mưa đi rồi
Để lại
những sần sùi
cộm lên
sau mặt lá
Tôi biết mình đã quen
nhặt vết chai
Mùa hạ

Những vết chai có từ đâu
Bà tôi chưa kể
Tôi cũng chẳng hiểu mình nhặt làm gì nữa
Lá bàng đỏ nhường kia
Những vết chai chợt cháy trong mưa
Ai dám bảo
lửa trong mưa
dễ tắt

Tôi quay lại thời gian đã mất
Nóng ran mặt
Mùa Thu !

01.04.1991

câu chuyện nhỏ

Bóng đêm !
Nở ra theo đôi môi em
Xếp lại theo nếp nhăn trên trán em
Nhàu nát theo cái nhíu mày của em
Bất động theo giấc mơ đã tắt lịm của em

Bóng đêm !
Ấy là
tôi hình dung
ra thế !

Điểm bắt đầu vốn ở chỗ
Giọt nước mắt em
giống hệt
Bóng đêm !

09.03.1991

Thơ cho Isaura

Tôi là
cô bé
Nô lệ
Có làn da
ngăm ngăm
Trăng đầu tuần
Sáng như
mắt em
E lệ

Tôi là
cô bé
Nô lệ
Tôi chẳng có bạn bè
Những người thân yêu nhất
lại quẩn quanh
trong nhà bếp

Mặt trời mọc
Tôi chỉ đón được
những tia sáng
nhỏ nhoi
Những tia sáng
cũng nô lệ
như tôi
Nên đã cùng tôi
bay ra ngoài
đồng nội

Tôi là
cô bé
Sứ giả của mặt trời !

29.09.1990

Lê Thu Thủy

Chùm thơ của nhà thơ Ngyễn Khôi

Nhân một chuyến du hành tới xứ Quảng nhà thơ Nguyễn Khôi có viết một chùm thơ về mảnh đất “chưa mưa đà thấm  “tặng Chàng trai già Quảng Nam ” lưu vong.
NHC xin trân trọng giới thiệu cùng các ban.

Bài 1:
Sông Thu Bồn
(Sông Thu Bồn giọng hát đò đưa) – Câu hát cũ

Sông Thu Bồn đôi bờ tre xanh biếc
Ngỡ sông Năng(trên Ba Bể)(1) ta về
Chang chang nắng, chang chang trời tha thiết
Đuôi mắt huyền em gái rất là quê

Ai có giận? – anh đâu chê Gò Nổi
Bãi dâu non sóng lụa óng tơ vàng
Ca điệu “lý” để cho lòng bổi hổi
Chàng trai nào khí phách vượt Quảng Nam?

Ơi sông Thu… bồn chồn ngàn thương nhớ
Nỗi đau nào bằng nỗi khổ ly hương
Được làm gốc tre già bên bờ sông bồi lở
Còn hơn là thuyền lưu lạc mãi trùng dương…
14-9-2009

Bài 2: Phỏng “Lý Quảng Nam”

Mấy khi qua nẻo Hải Vân
Có tui có bậu thỏa lòng ngàn xưa
Sông Thu dào dạt đôi bờ
Sóng xa nào biết nơi mô cội nguồn?

Cau xanh biếc lá trầu thơm
Ngọt ơi là trái bòn bon tặng tình
Bây chừ bậu nhớ đinh ninh
Cánh cò bay chở chúng mình về đây

Sông Thu một dáng thanh gầy
Vu Gia sóng vỗ chừng say mạn thuyền
Bên nhau là nghĩa là duyên
Có tui có bậu để quên sự đời.

14-9-09

Tặng Phong Hàn


Vọng Tiễn Đưa

Vui chân vào tới Tam Kỳ
Cơm gà một đĩa, canh mỳ một tô
Người đi chẳng có ai chờ
Sông Thu lạnh buốt tứ thơ trong đầu
Rượu à? ai đối ẩm đâu?
Cuộc vui trần thế là sầu thiên thu
Xa nhau nghìn dặm tít mù
Định ca câu “lý” ngần ngừ lại thôi
Thương ai lầm lũi bên trời
Tay nâng ly, hẫng …tuột rơi tan tành

Đọc lại bài tựa truyện Kiều năm 1820 của TIÊN PHONG MỘNG LIÊN ĐƯỜNG chủ nhân

Ngày trước, các ấn phẩm in truyện Kiều (đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du, mở đầu thường có hai bài tựa:

- Bài thứ nhất của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân (1820)
- Bài thứ hai của Phong Tuyết chủ nhân Thập thanh thị (1828)

Cùng bài thơ chữ Hán (đề từ – thi vân) của Lương Đường Phạm Lập Trai (Phạm Quý Thích)

Về bài “tựa thứ nhất” của Mộng Liên Đường, viết vào năm 1820, đây là năm Canh thìn, Vua Gia Long băng hà, Vua Minh Mệnh nối ngôi – đồng thời cũng là năm Đại thi hào lâm bệnh qua đời ở kinh đô Huế trong một nạn dịch bệnh đương thời làm chết hàng vạn người. Nói theo kiểu cổ nhân: Mộng Liên Đường đề “tựa” Đoạn trường tân thanh mà Nguyễn Du viết vào khoảng năm 1814 sau khi đi sứ nhà Thanh(bên Tàu) về…
Nghĩa là truyện Kiều đã trình làng được 6 năm, tác giả của nó cũng vừa qua đời; người viết có đủ điều kiện và xúc động ở thời điểm vừa “cái quan định luận” để đề “tựa”. Bài viết ngắn gọn, xúc tích dài chưa đầy hai trang giấy mà có nhiều câu người đời sau dẫn đi dẫn lại. Mở đầu bài “tựa”, Mộng Liên Đường lý giải rất khéo về hai chữ “đoạn trường” : “trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình.Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là cái căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy”.

Sau khi nói về cái lý do mà Tố Như tử đem truyện Thúy Kiều chép trong Lục Phong Tình rồi “dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả tình đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy?…
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ ra rằng cái nợ sầu của hai chữ tài tình, tuy khác đời mà chung một dạng. May được nối ở đằng sau quyển “Tân thanh” của Tố Như tử, cũng là một khúc đoạn trường để than khóc người xưa.”

tháng hai, niên hiệu Minh Mạng (1820)
viết ở Thán hoa hiên đất Hạc Giang
TIÊN PHONG
Mộng Liên Đường chủ nhân

Tiên Phong và Mộng Liên Đường (đình) là tên hiệu của Quan chức – nhà văn Nguyễn Đăng Tuyển(1795-1880) hậu duệ Trạng Bịu (Nguyễn Đăng Đạo 1651- 1719) quê ở thôn Thượng(tên nôm là làng Bịu Thượng) xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh.

- Nguyễn Đăng Đạo, đỗ Trạng Nguyên năm 33 tuổi, niên hiệu Chính Hòa, đời  Vua Lê Hy Tông 1683. Năm 1687 ông được cử đi sứ sang Tàu vào chầu Vua Khang Hy nhà Thanh.
Do đối đáp, thi thố văn tài với sứ thần các nước, có các bài đệ lên ngự lãm, được Vua  Khang Hy (một vị Vua nổi tiếng hay chữ) phê cho Trạng Bịu: “Bắc Triều đệ nhất Trạng Nguyên”. Theo sử sách: ông là người trung thực, thương dân, làm tới chức Tham Tụng(Tể Tướng). Ông mất năm Vĩnh Thịnh thứ 15 – vua Lê Dụ Tông phong tặng Lại Bộ thượng thư, Thọ quận công, ban cho bốn chữ “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” và một đôi câu đối:

Tiến sĩ, thượng thư, thiên hạ hữu
Trạng Nguyên, tể tướng, thế gian vô.

- Ông nội của Mộng Liên Đường là Nguyễn Đăng Vỹ, đỗ tiến sỹ năm Bảo Thái (1720 – 1729) đời Lê, làm quan tới hàm Thiếu Bảo, tước Kế Thiện hầu .

-  Cha Mộng Liên Đường là Nguyễn Đăng Chiểu đỗ hương cống(cử nhân)  làm quan đến Hồng Lô tự khanh. Cuối đời Lê loạn lạc ông đưa vợ con lánh lên xứ Đoài, làm nhà thuộc huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây. Thời Lê huyện lỵ Tiên Phong đóng ở xã La Phẩm(nay thuộc huyện Ba Vì – Hà Nội).

- Nguyễn Đăng Tuyển từng đỗ Tú Tài được bổ làm giám sinh ở Quốc Tử Giám. Năm Minh Mệnh thứ 17(1836) được bổ làm tri huyện Vị Xuyên(Tuyên Quang) sau chuyên về Kinh làm chủ sự ở Bộ Hộ rồi được thăng Thừa Chỉ, Thị Độc. Ông là người “vì văn học mà được Vua biết đến” thường được Vua Tự Đức cho ngồi bên cạnh dự các kỳ thi do Vua chủ trì, ông đã soạn các quyển”Đào hoa mộng ký”, “Nam thị quốc phong”, dâng Vua xem, được tán thưởng, chuyển làm trước tác rồi được sung chức Biên Tu Quốc Sử Quán. Năm 1856, ông được bổ Tri Phủ Thuận Thành(Bắc Ninh) rồi xin hưu trí. Tuy đã về hưu,ông vẫn được
Vua cho người về thăm hỏi, lại sai làm Vịnh sử ca.Vào dịp Vua 50 tuổi(ngũ tuần đại khánh) , ông dâng thơ tụng, được ban thưởng, vài năm sau thì mất, thọ 86 tuổi.

Nguyễn Đăng Tuyển – một cây bút tài hoa, ông lưu danh cùng Tố Như tử với tên hiệu “Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân” (bài tựa) được dịch in trong sách “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in năm 1925 và tái bản nhiều lần.Nay đọc lại lời bình sâu sắc của ông”xem đến chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn nguyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh ấy gẩy xong mà oán hận vẫn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên”đoạn trường tân thanh” cũng phải.”

Nay đã qua 189 năm, đọc lại bài tựa truyện Kiều của Mộng Liên Đường, kẻ hậu sinh (NK này) vướng duyên hàn mặc(bút mực) vẫn thấy văn chương của bậc tiền bối như nước chảy mây trôi, sâu đậm tình người truyền lại cho con cháu cái tài, cái tình theo cánh Rồng bay lên quả là hứng khởi biết chừng nào?

Góc thành nam Hà Nội, 2-9-2009
NGUYỄN KHÔI cẩn bút.

Lỏng bỏng một mình

Nguyễn Hàn Chung

lỏng bỏng một mình
mùi quê xứ nhạt thếch
điềm nhiên chan húp món món
ném  những hạt ngọc của trời vào giỏ rác không thương tiếc

múa đường dao chặt cái  bụp
đứt đầu đứt cuối đứt loạn xạ
cái mòn nịnh cái mới trá cái cũ đẩy đưa
cái vần vè nghiện ngập đánh chết không  chịu chừa
gặp mặt mẹ là quát gặp tàn tạ yêu xưa ngoảnh thật lẹ
rắp tâm dụ khị con bé mười lăm dệt mộng cao vời  nói ra rả về lý tưởng bảnh chọe

đầu con mắt ngước vọng đài tượng thiêng liêng
đuôi con kia rúc thả vào dưới váy
không có gì trơ trẽn bằng tình yêu chân thật
khi bít
chỉ còn hậm hực thù hằn
nếu không có nghìn sâu hun hút thì không có vợ hiền
gạt lường chung lưng đấu cật với trí trá
mồm  nam mô,  miệng a men

sướng cực một mình mi
cười ròng  rã  cây cột điện đường tối thui
lẩu thơ tùm lum chây bựa lộn tùng phèo
em ơi em đâu rồi em đâu rồi ?
bỏ anh tình yêu dồi chó thoa son mải miết
Houston
01/09/09

Chạm

Nguyễn Hàn Chung

Chạm cốc tia nắng chiều hớt hãi
ực từng ngụm leo lét
thành phố tỳ vết úp mặt vào bụi đỏ
người ta mày mò úp chụp vào nhau
anh úp em vào nỗi chai sần bầm tím nhu nhú

đứng trưa gió thin thít phả mùi câm
thiếu mớ tóc xuôi xị nhẫn nại cất bước
ngập ngụa hố xí tham vọng đời người
không thể tận tường đêm hôm đôi mắt ấy
thản nhiên quấn em vào mộng du

đừng cộng vào nhau thành một phép trừ
ai đó phun tị hiềm vào quá khứ
tách bạch già trẻ mà làm gì
năm tháng không cởi toạc được đâu
lọc lừa và ngu muội

Chạm thêm nữa đi
chớ để khuôn mặt em tàn nhang chết nắng khô queo
anh mài đũng sân si không bòn ra nỗi nhớ
lên cơn siết chữ bàng hoàng
trong tư thế đứng khoeo chân
tựa chầm chập tin yêu vào không tưởng

nhấm nháp ốm tha già thải mà rớt nước mắt
ruồi bu thì vẫn kiến bu
câu chữ lúng búng cửa miệng
phun thoắt vào trong
đành

Chạm không nghe tiếng lanh canh
mà ly vỡ

Vụn.

Dallas 15/5/09

QUA ĐÒ, NHỚ MẸ

2009-03-29 @ 10:59 in Tác Phẩm Thơ

Viết nhân ngày sinh nhật mình ( 29.3 )
Ngày còn trẻ, mỗi lần về thăm quê, tôi thường đứng bên kia sông gọi đò. Người chèo đò có thể chưa nghe, nhưng mẹ tôi đã nghe rõ tiếng con mình ơi ới gọi. Trước nhà tôi là con sông Vu Gia hiền hoà, nơi mẹ đã sinh ra tôi trong một ngày gió to. Cứ đến ngày 29 tháng 3, tôi lại nhớ mẹ nhiều hơn. Bài thơ này xin tặng mẹ nhân ngày sinh nhật của con.

Nguyễn Ngọc Hạnh

Tôi sinh ra
từ bến sông này
Sông thì hẹp
mà quê dài rộng thế
Đời mẹ nhọc nhằn
bao mưa nguồn chớp bể
Ấp ủ đàn con
trong đôi gánh tảo tần Đọc tiếp »

Tru Yêu

                       
                                 Nguyễn Hàn Chung

 anh có thể chẻ đôi tình yêu
một nửa cho em một nửa cho người đàn bà khác
cũng có thể chẻ ba, tư ,năm, bảy chín…
cho bất cứ người đàn bà nào đi qua trong đời
họ có quyền nhận phần  yêu của họ
dù chẳng xơ múi là bao .
(ía.. a.. trường hợp anh là người nổi tiếng )

em có thể hiến dâng linh hồn đắm đuối
cho tất cả những người đàn ông đi qua đời em
còn xác thân thơm tho  em dành riêng cho anh
hỡi người tình vật dục
anh có chịu  nổi không  ?

 anh có thể yêu em bằng trái tim chân thật
dù chúng ta không hề gặp mặt
hoặc giả em cuồng say hoan lạc với một ai đó mà vẫn yêu anh chết bỏ
hỡi người tình thánh thiện
anh có ung dung liếm láp nỗi buồn ?

đã biết cuộc người ngắn ngủi sao còn  đóng vành khăn đạo lý láo toét
 không thấy
 những loài  không biết yêu não tràn dịch tủy tuổi thọ dài hơn đó sao
ghen tuông chỉ tổ làm mòn số phận

yêu đơn thuần là động tác cộng hưởng từng sát na cấy giống
đừng vẽ vời Tru tiên *
đừng phỉnh phờ liên miên …
1/5/09
*Tên một tác phẩm võ hiệp của Tiêu Đỉnh một tác giả mới nổi  trong nhóm Thần Châu tân ngũ hiệp bên Tàu

Bài tha phương không chín


              
                          Nguyễn Hàn Chung      

                            Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân

Xuân xứ sở cao bồi xa tít viễn tây
sắm tết bằng  không gian ảo
thân thuộc trên màn hình không nói
tôi ngóng trân về một phương

Ngày chăm bẳm  lò cò trẻ nít
gồng gánh bưng biền rơm rác đã xa
 mong manh cầm giữ dằng dai
chỉ sợ mình kép hát

Lọt thỏm giữa chiếc xe gìa cộc cạch
xuân giãy giụa bào mòn ký ức
em khuất đâu trong đồng lúa vàng
tôi chun mũi hít hà hương bồ kết

Đêm ri rỉ tiếng thở dài ngốc nghếch
mắt đen chìm khuất mênh mang
trong giấc mơ bầm dập nhấm nháp  từng giọt
mồ hôi cần lao  tôi  tinh tươm  má lúm đồng tiền

Những sợi tóc đen hiếm hoi
 ương bướng chống chỏi  quyết liệt sự bỡn cợt của thời gian
ngày nào đêm nào
cũng  quả quyết tự ngôn là lần chót

Thân oằn nhớ xứ ngày xuân xúng xính làm  trẻ con
rau ráu bánh tưởng nhai dòn tan
văng vẳng  tiếng xóm giềng chúc tết
 biết chia sẻ thế nào
người đàn bà tóc vàng mắt xanh  lạ hoang
Houston-Texas
 
                                        

CƯỠI BÓNG MÌNH QUA GIẤC MƠ HOANG

Nguyễn Chiến

                        

                          

                                              (Đọc tập thơ Trích tôi của Đỗ Thượng Thế)

     Có lần Đỗ Thượng Thế nói với tôi: Rất sợ bị vần nhịp lừa mị làm hỏng í thơ. Người thơ nầy rất có í thức viết mới, viết như thế nào đó để bộc bạch, giải bày cho đến kiệt cùng, chứ không chịu hạ mình để cho vần điệu phỉnh phờ, ràng buộc mà sinh hạ những câu thơ xập xèng, ẻo lả, điệu đàng. Hãy xem trong Trích tôi, Đỗ Thượng Thế đã cố gắng viết mới theo hướng nào?

     Tôi biết Đỗ Thượng Thế còn có những bài thơ rất trữ tình, rất… dễ đọc. Xin ghé lại một chút với những vần thơ ấy:

                            Chìm sâu trong giấc cỏ xanh

                            Ánh biếc chong ngày rờ rỡ

                            Sực mùi giêng xưa hít thở

                            Ấm hơi đánh thức nỗi thầm 

                           Gót gầy ướm dấu chân non

                           Gặp tiếng chim thơm vườn ổi

                           Sông nắng vô tư bơi lội

                           Ao mưa nơm úp ụp òa…

                                                 (Trong giấc cỏ xanh)

                           Chưa từng tát cạn đêm sâu

                           Chưa ngồi nhặt bóng chưa khâu vá hồn

                           …

                           Chưa em chưa cả ta thôi

                           Cả mưa xưa phía cuối trời còn tuôn

                                                  (Như chưa)

Người đọc thơ anh rất thích những bài thơ như thế. Nhưng anh lại để mặc cho chúng nằm xẹp đâu đó trong góc lòng anh. Anh muốn, ở tập thơ đầu tay nầy, giới thiệu một Đỗ Thượng Thế gào khô khản vắng…cỡi bóng mình qua giấc mơ hoang, nhập thân vào con vụ trụi trần cuồng quay, vào bóng cò già…gầy nhom,vào con nít trần truồng bến trưa hò hét, có khi tê dại thèm…đương kì ngực hương dậy mẫy hoặc ngồi hít hà cái mùi hạnh phúc trong: Tã lót bé thơ/Lung linh nét nhạc/Tong tong mặt trời…Anh muốn ra mắt một Đỗ Thượng Thế với những câu thơ bụi bặm, tung hứng, xập xòe, quẫy đạp cho tím bầm hồn vía…

     Cách tân là yêu cầu của văn chương mọi thời đại, là trách nhiệm của người cầm bút chân chính. Xét trên tiêu chí nầy, Đỗ Thượng Thế đã dũng cảm gồng mình “quăng thân vào gió bụi” (chữ của Tố Hữu) giằng co với chữ mà viết những bài thơ không cấu tứ, dồn nén ngôn ngữ không vần không điệu, mở lối cho mình.Tôi nghĩ: muốn viết mới trước hết phải đổi mới cảm hứng. Một khi quan niệm thẩm mĩ thay đổi, điệu hồn thay đổi tất sẽ dẫn tới đổi mới nghệ thuật biểu hiện, cách bộc lộ cảm xúc…Không mới trong mĩ cảm thì cái gọi là cách tân, thể nghiệm chỉ là trò múa may con chữ. Xem cái biểu đạt quan trọng hơn cái được biểu đạt thì khó mà không rơi vào duy mĩ. Cái tôi trong Trích tôi không “đơn ngã” mà nhiều màu, lắm sắc. Lúc là thâm căn cố đế thằng tôi quê bần, lúc “sang trọng” làm đứa con hiểu đến tận cùng đường cày đời cha, đến cuối cùng vụ mùa đời mẹ, khi cao đạo giương cánh phù sinh/ thanh lọc phong trần, khi cũng “phàm trần” sững sờ trước đương kì ngực hương dậy mẫy.  Lúc già như bóng cò già, lúc trẻ như con nít trần truồng, khi như con vụ cuồng quay, khi lắng đáy tâm…Cứ thế, Đỗ Thượng Thế tha hồ khám phá chính mình và “trích” ra cho đời một cái tôi khát khác. Bản ngã được mở ra nhiều hướng, í tưởng bị hút dần về phía những ngõ khuất của vô thức; người thơ mon nem đi vào miền siêu cảm mà tìm bóng mình qua giấc mơ hoang. Vì vậy, hiên thực trong thơ anh tồn tại ở những nét mờ nhòa. Bóng mẹ, bóng cha, bóng cò gầy, bóng vạc giạt dàu thức trắng, con chó và tay săn trộm chó…chỉ thóang qua. Nhiều ám ảnh, ẩn ức khó gọi tên. Gió trong thơ anh là gió không mùa, mưa là mưa Trịnh, mây huyền thọai, trăng héo trong tranh, bươm bướm chuồn chuồn la đà cổ tích, lũ chỉ là biến tấu . Nhiều câu thơ của anh không phải để hiểu. Đọc thấy hay, thấy choi chói nỗi niềm nhưng thấu nghĩa thật khó. Như thế nầy chắc chính anh cũng mơ hồ:

                                 – Giạt rều rềnh lao đao

                                 Mấy mươi năm hồn hanh bụi mốc

                                  Nhịp lửa xới hăng hăng củi rục                                                    Giọt tranh loang đẫm ngực

                                  Âm ẩm bùn vũng trâu

                                  …

                                  Thân dế nhiều khi lụt lội

                                   Áo cơm vắt vẻo ngọn khuya

                                   Khát cứ hà rầm ngập nỗi

                                   Lại cơn úng tóc dàu về 

                                              (Biến tấu lũ)

                                – Nỗi đắm cạn bãi bờ ngày xô sóng lận

                                  Bọt nước vỡ thau những chân trời rựng tím

                                  Những cánh say mù biếc

                                  Những dát hồng nắng mưa

                                  Những thiên lưới dằng dai kiêu bạc

                                 Những mẩy trăng những ngần sao                                                                                Những đẫm ngợp

                                                  (Không đề)

Tôi nhớ ai đó hỏi một nhà thơ: -  Ông định nói gì trong thơ? Nhà thơ trả lời: – Nếu nói gì thì nói chứ làm thơ để làm gì? Người làm thơ nhiều khi viết để giải tỏa một ẩn ức, “viết vì nghe theo một tiếng gọi mơ hồ, bí mật nhưng dai dẳng của ngôn ngữ“(Henry Miller). Đỗ Thượng Thế tập tành đi theo tiếng gọi ấy chăng? 

Í thức thể hiện cái tôi khát khác, nên anh thiên về biểu hiện những chiều kích của tâm hồn hơn là tái hiện thực tại. Anh đã cố gắng mở rộng biên độ cảm xúc và diễn đạt bằng những ám thị, ẩn dụ… Vì thế, trong nhiều câu thơ hình ảnh đan chồng, cảm xúc níu quấn, ‎ í tưởng xô lệch:

     – Thằng nhãi con giương cao chùm nắng mẹ cho, chân ngập điệu mưa non, mê rêu rao trật tự cầu vồng

                                                           (Sắc màu riêng)

     – Những ngọn gió thì đương mùa lên tắt nghỉ

       Một đời hương biết ngát vào đâu khi bướm tiên lũ lượt về trời

      Rêu ám giấc mơ cứ đòi đêm thóat kiếp

     Mà đêm đêm như cái bào thai…kìa người đàn bà đang cơn vỡ ối

                                                           (Hồi âm)

   -  Về phía nào!?

      Phía nào…?

     Trước mặt trời tứ tán

     Trái tim ta vỡ òa như bầy kiến

     Tha chiếc bóng cỏ xanh

     Rân rần tháo chạy…

                                                        ( Mê lộ cỏ)

     Nhiều người viết mới hết sức cực đoan, muốn tung hê truyền thống. Họ không ưa cả những cách nói cho đẹp lời (mĩ từ pháp). Họ cho rằng đó là thứ xảo ngôn của hạng thi sĩ điêu toa, giả dối. Từ đó cứ viết câu thơ đuồn đuột, đến khó chịu. Đỗ Thượng Thế chừng mực. Anh vẫn có thơ lục bát nhưng làm mới đi một tí. Đó là cách vắt dòng và hài thanh phá cách:

                                   Chắt cạn cùng

                                  Lắng đáy tâm

                                 Ưá đầu ngọn bút

                                 Cái thần phiêu diêu

                                 …

                                 Nét cơn khát cánh chim trời

                                Nét lại hồi nét một thời đương xuân

                                                     (Nét)

    Thơ và nhạc là hai chị em sinh đôi(Phan Hùynh Điểu). Thơ có thể dài, có thể ngắn, có vần hoặc không vần, hài thanh hoặc không nhưng không thể không có nhịp điệu. Điệu hồn mới thì thơ tự nhiên có cấu trúc âm nhạc mới. Đỗ Thương Thế “sợ” vần nhưng thơ anh vẫn có tiết tấu, biến tấu:

                                 Em – dịu dàng

                                 Đi qua

                                 Bén!

                                 Lửa!

                                 Từ đôi mắt biếc

                                 Tận tim anh

                                 Cháy!

                                 Bùng!

                                                     (Cấm lửa)

     Thơ đòi hỏi kiệm lời. Tôi đặc biệt ưu ái lối thơ có cảm xúc nén chặt trong những câu thơ tỉnh lược đến mức tối đa. Thơ hay có khi là những mảnh ghép rời nhưng có chất keo cảm xúc kết dính bên trong. Trích tôi không nhiều những vần thơ như thế. Đỗ Thượng Thế khá chắc tay, phả được sắc hồn đẫm ngợp vào thơ; song vẫn còn những câu ngắn nhưng thừa chữ:

                                Mọi kho xăng đều cấm lửa

                                Để đề phòng tai nạn xảy ra

                                                      (Cấm lửa)

Vẫn còn những câu nhưng chưa đọng, í bé hơn lời:

                                Thì một gã khát tình

                                Ngữa mặt

                                Trông mày

                                Lắm ảo tưởng

                                Nhưng không í định…

                                                        (Bóng mưa bay)

Lắm khi người viết không bước khỏi bóng mình:

                                Mỗi thóang thu trôi bến cũ đều rằm

                                                        (Một dòng sông)

                                Thiếu nữ lạnh ngực rằm

                                                       (Kí sự đêm)

                                 Một đêm…

                                 Em dậy rằm

                                                       (Giấc xa xăm)

     Trong cuộc dấn thân đi tìm cái mới, Đỗ Thượng Thế đã dám “bước qua lời nguyền”:

                                Ta hẫng rơi bóng câu thề trắng đất

                                Bước ngày lên…

                                                         (Mê lộ cỏ)

Có thể xem Trích tôi là thể nghiệm ban đầu thành công của Đỗ Thượng Thế. Anh đã làm mới được mình bằng những bài thơ với một cái tôi khát khác;  người đọc có thể ngã hồn lên tin cậy. Vội mừng cho anh…

                                                                                 Cuối năm 2008

                                                                                           NC

San sẻ yêu thương


 

Bé Gia Bảo 3 tuổi (ảnh) con của nhà thơ Phan Chín (Tam Kỳ, Quảng Nam) bị bệnh ung thư mắt. Mắt trái của cháu đã được mổ và thay bằng mắt giả năm 2006. Mới đây bệnh di căn sang mắt còn lại. Hiện cháu đang điều trị tại phòng 302 khoa Nội nhi BV Ung Bướu, số 3 Nơ Trang Long, TP.HCM.  Mỗi lần cháu truyền hóa chất (hóa trị) hết 1,9 triệu đồng và tiêm bạch cầu hết 1,7 triệu đồng. Cháu đang chờ đến ngày mổ. Nếu mổ hai mắt cháu sẽ bị mù vĩnh viễn. Thật tội nghiệp cho đứa trẻ vốn khỏe mạnh, thông minh… nay phải chịu cảnh mù lòa!  Được biết với bệnh của cháu, hiện nay bệnh viện ở Úc (Khoa tai – mắt – mũi –họng của bệnh viện Melbourne), Nga và Mỹ có kỹ thuật chữa khỏi mà không phải mổ mắt. Nhưng gia đình công chức (Phan Chín hiện làm tại Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam và mẹ cháu làm ở báo Quảng Nam) không đủ chi phí để cháu chữa trị bằng kỹ thuật ưu việt. Rất mong những nhà hảo tâm, đồng nghiệp cùng bạn đọc gần xa ra tay cứu giúp con mắt còn lại của cháu Gia Bảo!  Địa chỉ anh Phan Chín: Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam, số 8 Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam. ĐT: 0935.418081; hoặc tài khoản Vietcombank số 0651.0035.5901.
 

   Han Chung Nguyen summary translate  in to English  

Gia Bao 3 years old ( picture) is a son of Vietnamese poet Phan Chin. They are living inTam Ky, Quang Nam. Gia Bao had eyes cancer. His left eye has been have a surgery and replace by spurious eye in 2006. Now, the cancer move to the right eye. The boy is in the hospital at Room 302 Major Children, Cancer hospital, No Trang Long Street # 3, Ho Chi Minh City, Viet namViet nam do not have modern treatment to help him. Gia Bao’s parents are so poor. They do not have enough money to go abroad to receive medical treatment in advanced countries; such as Australia, the United States of America et al. If Gia Bao is not helped immidiately, he will be blind. Please help! He really needs kind- hearted people to save him. Address: Phan Chin      Nguyen Dinh Chieu Street # 8     Tam Ky City      Quang Nam Province     Viet Nam     Cell phone 84935418081

Có khi, thế rồi

                      Nguyễn Hàn Chung

Có khi
            thấy chán quý bà
Tôi tuôn một mạch
tôi ra cánh đồng
Bốn bề
           gió nắng minh mông
Cô đơn tôi quá
con lòng trống treo
Thế là
            tôi lại tìm yêu
Ba con móng đỏ dập dìu ,
                                        có đâu ?
Tôi về với mụ trầu cau
Dụi câu thơ
                    giữa hai bầu vú teo
Có khi
             quá chán đâm liều
Vung tay ôm đại
em kiều bá vơ
Cũng tâm sự
cũng rù rờ
Qua con khát
       thấy
trống huơ nhân tình
Thế rồi
            đâm nghĩ linh tinh
Đến phơ phơ vẫn
                              náu mình dòm quanh
Bàn chân
               áp sát cổng thành
Bước chân quen thói ma lanh
             rẽ lùi
              
Có khi
             rốt cụôc
                            thế rồi
Bấy bao yểu điệu
soán ngôi phất cờ

Harris County Hospital
Houston TX
25/10/2008


 

TIỄN ĐƯA

                   Tặng Phong Hàn (Nguyễn Hàn Chung)
Tôi đưa người đi đêm nay
Người đi, Tôi ở buồn thay phiên chờ
Xa người, người vắng, vắng thơ
Rượu ngon người vắng cũng hờ hững thôi
Tôi đưa người-ai đưa tôi?
Biết trăm năm có còn vui thế này!
Đưa người như trông mây bay
Người đi vạn dặm biết ngày nào quên
Thôi chung rượu nầy để dành
Mai người trở lại cùng nâng cạn sầu.
                                 Trầm Luân

La Trung

LẠY QUÊ
(Viết sau cơn lụt lớn 1999 tại miền Trung)
Tặng: Nguyễn Hàn Chung

Cộc lốc
Tiếng chửi thề rơi trên bờ ruộng
Chân trần dậm nát lời đau !
Tai ương rập rình bên bụi lúa
Thủy quái đầu nguồn được mùa hí lộng
Thi nhau trấn nước quê làng
Nửa tỉnh nửa mê…
Thần nông cũng đành bó gối
Tủi lòng bấn giọng quê hương !

Thương quê…
Gã say loạng choạng
Tiếng chửi thề rơi trên đường vắng
Bờ đêm mặt nạ rơi đầy
Chị Dậu giật mình tỉnh giấc nghe đau
Quái
Sao vẫn còn người điên không mất trí!?

Lặm tình!
Gã quê bái núi
Nghe đồng dao vỡ vụn
Gọi mục đồng nhắn gởi đôi câu
Bụng đói
Rì Tắc suôn trâu bức mũi em à!

Lạy quê
Cơm đùm khăn gói
Lừng khừng đứng giữa ngả ba
Bói miệng

Đi
Chữ mô cũng đều ưng bụng
Mà sao nước mắt lưng tròng…

LT

Phạm Tấn Dũng

Nghịch sông
 
 
Nhiều năm sau
Nhưng chỉ một chiều
Trên đôi cánh tay hiện rõ những dòng từ sông lớn
Căng phồng và chảy ngược
 
Những dòng sông nóng
Chở theo tóc râu sương sớm trên dốc nắng
Chở niềm xanh thả rớt dọc đường
Chở tiếng hát thôi nôi buổi sáng thả vào gương sen buổi chiều
 
Những dòng sông rần rật hát giữa lời câm
Rần rật khóc khuya
Rần rật những mạch ngầm âm ỉ đi trong mình
Nhưng không thấy mình
 
Những dòng sông bây giờ quấn chặt hơi thở
Phả vào mưa!
 
Chiều nay…
Đôi cánh tay ghì ôm
Những dòng sông chảy ngược
Du du
          dẫn dẫn
                       trong anh!…
 

Tin tu Ly Doi

Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn: Tặng 18.200 cuốn sách và tạp chí Từ giữa năm 2007, Viện Nghiên cứu xã hội (Viện NCXH) TP. HCM đã tiến hành các thủ tục để nhận 18.200 cuốn sách và tạp chí của nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn (Canada) trao tặng. Đây là phần lớn số sách được trích ra từ tủ sách gia đình của nhà nghiên cứu này. Sáng 22/9 tới đây Viện NCXH sẽ tổ chức lễ ra mắt thư viện chứa số sách trên tại 149 Pasteur, Q.3, TP. HCM. Chúng tôi có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Thị Hậu, Phó Viện trưởng. 
 * Đến nay thì mọi việc xem như đã tạm hoàn tất, từ buổi lễ ra mắt thư viện sách của nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn trao tặng, cá nhân chị đánh giá số sách này như thế nào?-
Nói đúng là Viện NCXH tổ chức lễ tiếp nhận số sách được ông Nguyễn Tiến Văn tặng. Đáng lẽ lễ tiếp nhận phải được tổ chức từ sớm hơn nhưng đến nay, việc xây dựng trụ sở cơ quan mới hoàn tất nên mới tổ chức được. Theo tôi đây là một khối lượng sách lớn và có giá trị trong nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn.
* Có khoảng bao nhiêu cuốn hoặc bao nhiêu tấn tất cả? Chị có ước đoán được số tiền mà chủ nhân của số sách đã bỏ ra mua không? -
Hiện chúng tôi đã thống kê được 18.200 cuốn sách và tạp chí. Thiệt tình tôi không thể ước đoán được số tiền mà chủ nhân đã bỏ ra để mua số sách này. Tuy nhiên tôi biết rằng sách ở nước ngoài rất đắt, nhất là các bộ từ điển bách khoa và chuyên dụng. Điều quan trọng là chủ nhân đã bỏ nhiều công sức để tìm mua những cuốn sách hay, có giá trị từ nhiều nguồn, nhiều ngoại ngữ và nhiều nước khác nhau, trong suốt một thời gian dài mấy chục năm. Đó là cái mà không thể tính bằng tiền được.
* Chủ đề chính của số sách này là gì? Bên chị đã phân loại chưa, hay còn để ở dạng bảo quản chung? -
Đây là một số sách khá lớn, tương đương một thư viện vào loại trung bình ở Việt Nam hiện nay. Do thời gian qua chúng tôi chưa có điều kiện để phân loại cụ thể. Hiện mới phân loại theo ngôn ngữ (Anh: 17.102 cuốn, Hoa: 803 cuốn, và các ngôn ngữ khác; và theo chủ đề (sách công cụ, như từ điển các loại: 591 cuốn, sách nghiên cứu: 17.399 cuốn, tạp chí: 210 cuốn). Và tạm sắp xếp vào một kho sách mới, riêng biệt, để tiến hành bảo quản bước đầu và sẽ lần lượt làm các công tác nghiệp vụ thư viện.
* Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn chủ động tặng số sách này, hay bên chị chủ động nhận, vì ông ta cũng muốn tặng từ trước đó 1-2 năm nhưng một số cơ quan ở Việt Nam không chịu nhận?
- Qua một người bạn tôi được biết ông Nguyễn Tiến Văn có nhã ý tặng một số sách nghiên cứu cho một viện nghiên cứu hoặc trường đại học trong nước. Tôi không biết đã có cơ quan nào chưa hay không muốn nhận, nhưng khi tôi báo cáo việc này với ông Viện trưởng Viện NCXH, PGS. TS. Phan Xuân Biên thì được sự chỉ đạo là tìm cách liên hệ với ông Nguyễn Tiến Văn để nếu ông Văn đồng ý thì sẽ nhận số sách này.
* Từ khi sách được chuyển bằng container loại lớn về cảng Cát Lái (Q.2, TP. HCM) đến nay là khoảng bao lâu rồi?
- Tháng 4/2007 chúng tôi nhận được giấy báo có lô hàng 300 thùng sách từ Canada gửi về, tại cảng Cát Lái. Ngay sau đó chúng tôi tiến hành làm các thủ tục để nhận lô hàng này. Hoàn tất các thủ tục và nhận hàng mất gần 2 tháng. Sau đó vì chưa có chỗ để nên phải gửi tạm tại một cơ quan bạn, nay mới đưa về trụ sở của viện.
* Thủ tục để nhận số sách này có khó không? Tại sao bên viện của chị lại chấp nhận làm một việc được xem là có tính “nhạy cảm” và gần như “hi hữu” này?- Thủ tục nhận số sách này không khó, nhưng hơi lâu, vì đây là lần đầu tiên có một lô hàng nhập đặc biệt là sách nghiên cứu đã qua sử dụng. Vì vậy cũng cần làm một số văn bản giải trình và đề nghị với UBND TP. HCM và các cơ quan chức năng như Hải quan TP. HCM, Hải quan cảng, Sở Văn hóa Thông tin, Phòng Kiểm tra xuất nhập khẩu văn hóa phẩm (thuộc Sở Văn hóa Thông tin)… Chúng tôi đã được sự chấp thuận và giúp đỡ của các cơ quan này nên đã nhận được lô hàng khá suôn sẻ. Là một cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, chúng tôi nhận thấy đây là nguồn tài liệu rất hữu ích cho công việc hiện nay và về sau, cho nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu không chỉ ở TP. HCM. Vậy nên có cơ hội thì chúng tôi cố gắng để có được nguồn tài liệu quý này.
* Thư viện hiện nay có đáp ứng đủ không gian và chất lượng khai thác cho số sách này không? Hay bên chị đang chờ một kế hoạch mới?
- Tại Viện NCXH cũng có một thư viện nhỏ. Nay có thêm số sách này thì mặt bằng hiện tại, cũng như trang thiết bị chưa đủ để khai thác nguồn tư liệu này. Chúng tôi đã trình UBND TP. HCM kế hoạch xây dựng thư viện của Viện NCXH với những trang thiết bị tốt hơn, hiện đại hơn, để có thể khai thác và phục vụ có hiệu quả hơn.
* Viện NCXH trước đây là Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn TP. HCM. Nhưng từ 1/10/2008 tới đây Viện NCXH sẽ hợp nhất với Viện Kinh tế và Viện Quy hoạch đô thị thành Viện Nghiên cứu phát triển TP. HCM. Vậy khi hoàn chỉnh việc hoạt động của thư viện này, đối tượng nghiên cứu hay tham khảo số sách này, bên chị có dự trù được chưa?
- Có lẽ phải mất một thời gian nữa để thực hiện các nghiệp vụ thư viện với số sách này thì mới có thể phục vụ bạn đọc. Đối tượng là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các cán bộ, giảng viên, sinh viên có nhu cầu. 
VĂN BẢY thực hiện 
Box: Nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn từ chối trả lời phỏng vấn về sự kiện này, ông chỉ nói như vầy: “Tôi thấy mình cũng đã lớn tuổi rồi, sức sử dụng số sách chuyên ngành này đã bắt đầu suy giảm, tôi muốn được chia sẻ nó với nhiều độc giả khác, nhưng nếu tại tư gia ở Toronto (Canada) thì rất khó, vì ở đó các thư viện công cộng rất phong phú và khổng lồ. Tôi muốn tặng cho các bạn đọc ở Việt Nam và rất vui khi Viện NCXH đã đồng ý tiếp nhận. Tôi chỉ hi vọng một điều là sẽ có nhiều người đến tham khảo và chia sẻ các thông tin mà thư viện nhỏ này có thể cung cấp được”. 

 

Nói hộ phù du – Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồn sinh

Liêu Thái 
Anh đã sống ở một phương trời xa lắc xa lơ quê nhà, những câu thơ anh bắt gặp cũng mang một màu da khác. Nhưng dường như đâu đó nơi khuất lấp tâm hồn, những đồng vọng của hôm qua vẫn còn đọng lại trên đỉnh chữ, âm ỉ chảy thành lời trong cuộc dấn tồn sinh…
Trong những người cầm bút, sáng tác thơ của Điện Bàn và Quảng Nam,có thể nói rằng làm cho thơ hay thì không phải ít, nhưng làm cho mới thơ thì quả thực đếm trên đầu ngón tay. Đất Quảng Nam vốn nằm trên bản đồ những miền đất yêu thơ, “làm cách mạng thơ”… Nhưng đó là chuyện của một số quá ít ỏi những con người có ý thức tìm tòi cái mới. Dường như phần còn lại là những nghệ sĩ thị trấn, tỉnh lẻ khư khư ôm cái cũ, tiếc nuối cái mà lẽ ra nó đã được yên vị trong viện bảo tàng… Đào cái cũ, hòng làm mới lại nó chẳng khác nào việc chăm sóc một xác chết với hy vọng nó tươi rói và tiếp tục nói chuyện (hoặc chí ít thì nó cũng “thị phạm” được những gì nó từng nói trong quá khứ!) là một chuyện hi hữu và vô bổ. Nhưng người ta đã làm và làm không ít! Chưa bao giờ khái niệm Truyền thống lại đủ vững mạnh và sức sống như tình trạng văn nghệ tại cái tỉnh nhỏ bé – khúc ruột miền Trung như bây giờ. Có lẽ do vậy mà bất kỳ một người cầm bút nào có ý thức cách tân đều để lại một ấn tượng nào đó trong bạn đọc và thi hữu. Nguyễn Hàn Chung cũng nằm trong số ít ỏi này. Dường như ý thức cách tân vốn đã có từ rất sớm, manh nha trong Tìm tôi trong bóng và hiện rõ hơn trong Nói hộ phù du. Tuy không triệt để, nhưng chí ít anh cũng có một thái độ khước từ những giá trị sáo mòn và tìm một lối đi mới. Một lối đi có nhiều gai góc, cạm bẫy trong cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về hiện hữu.
Tôi tin loài phù du bị hàm oan
bởi kiếp tồn sinh quá ngắn
Nếu không hiến đời mình bằng
đường bay ánh sáng
Sao kịp thành thiêu thân?
Cuộc chạy đua nào không vòng quanh
Nhưng chỉ cánh phù du biết
làm sáng lên ngọn lửa
mới mong chiết ra chất tinh ròng.
(Nói hộ phù du – NHPD)
Nếu không hiến đời mình bằng đường bay ánh sáng/ sao kịp thiêu thân? Hỏi nhưng mà cũng là trả lời. Trả lời bằng chính sự bất lực, bất khả giải của một hiện tượng không phải là của con người nhưng lại có sức biểu cảm, chở thân phận con người trên “đường bay” của nó. Phải chăng hiến (dù trên phương diện nào) là một bất khả kháng trong cõi tồn sinh, là một khả thể trên lộ trình bất định của sinh – thành – bại – diệt? Và hành vi hiến cũng là trạng thái tìm về bản thể hư vô mang nặng bản năng, định mệnh hơn là lí trí, dự tính?! Dường như Nói hộ phù du nhưng cũng là nói hộ ai đó đã, đang đi qua mặt dất này, nói hộ ai đó cũng là đang nói hộ mình, nói hộ mình cũng là đang nói hộ cho im lặng, nói hộ cho im lặng cũng là đang nói hộ cho cát bụi vô thường! Ở đó, người nghệ sĩ bắt gặp cái hữu hạn giữa cái hư vô và cái không cùng giữa cái nhỏ bé mong manh, ý thức cộng sinh, dun rủi con người tiếp tục đi tìm để tái sinh, sáng tạo ra mình thêm lần nữa trong ý nghĩa phù du…
Em múa những đường mây của trời
trong đất nung
qua gió mưa từ bấy
những chùm rêu chưa kịp tỏ tình
em múa đến bao giờ vậy
thần SiVa lặng thinh…
(trích Với người vũ nữ Chăm trên tháp Mỹ Sơn – NHPD)
Dường như đó là lời tự luận, tự vấn, tự trấn… những ý hướng thường thấy trong thơ lãng mạn. Tuy nhiên, sự phản tỉnh đã được thổi vào đó hơi hướm của thời đại, sinh khí của hiện đại bởi âm hưởng lãng mạn có dính những hạt li ti ngôn ngữ siêu thực thông qua kĩ thuật ngắt dòng, định vị từ và sử dụng nhiều hình ảnh mới (tuy rằng chất liệu và chủ đề hoàn toàn không có gì mới mẽ) đậm tính phồn thực, hiện thực huyền ảo của thi ca trong đất nung, qua gió mưa, những chùm rêu chưa kịp tỏ tình với thế giới quanh nó, với cơn khát thèm được sống đang cháy mãnh liệt bên trong nó… Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ – một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…
Nhận tặng vật của đêm
Biết không còn yên ổn
Món quà rẻ rúng khao khát kia!

gã tình quất ngựa truy phong
đứa bé đói bấu ngực cha tìm mụn vú
đêm có tội tình chi…
(trích Biến tấu đêm – NHPD)
Ý thức tha nhân, ý thức về nỗi đau nhân tình thế thái, ý thức về những hệ lụy của đời sống luôn là niềm day dứt khôn nguôi trong thơ anh, dường như ở đâu người đọc cũng bắt gặp những dòng thơ mang mang nỗi buồn thế sự, âm âm một mối cảm hoài về sự yếu đuối, bất lực của sự sống trước qui luật khắc nghiệt thời gian, trước những tàn phai và phụ rẫy, trước những hy vọng và bi thảm khôn nguôi… Những dòng ý niệm bên trong được thác vào một cấu trúc ngôn từ mở rộng mang tính đa chiều được định dạng bởi kĩ thuật ngắt dòng tự do, đột ngột, tạo độ trường cấu tứ và ý niệm, mở ra không gian đa chiều kích của thơ.

Người đàn bà hết duyên
vắt lòng đẻ ra những đứa con bụ bẫm
rồi lặng lẽ gục giữa tro than
níu những giọt mưa kì ảo của thế gian
nước mắt không còn đủ ấm
những lời ca vẫn bay thấu địa đàng.
Những chuyến tàu cắm vào thời gian
không ga nào đỗ lại
chồi non ra hoa rồi kết trái

nghiến lên đường ray
vĩnh hằng khúc tráng ca.
(trích Dưới mưa – NHPD)
Dường như khi đọc những bài thơ trong Nói hộ phù du, tôi có cảm giác vẫn còn thấp thoáng những hình ảnh, ý tứ, không gian tâm lý của Tìm tôi trong bóng. Và điều này ít nhiều tạo cảm giác khó chịu về tính liên văn bản hơi “sống” của những tác phẩm thơ anh. Tuy nhiên, đây cũng là “căn bệnh” không thể tránh khỏi của bất kì một người nghệ sĩ nào trên con đường sáng tạo. Vấn đề nằm ở chỗ mức độ và dung lượng phản chiếu của cái cũ (do chính anh tạo ra) lên cái mới đậm hay nhạt, khả dĩ chấp nhận được hay không và tạo ra hiệu ứng nào cho độc giả. Với Nói hộ phù du, vẫn còn âm vang đâu đó cái âm hưởng của Lãng mạn – Nhân văn, vẫn còn khuất lấp nơi ngóc ngách của “căn nhà mới” một cái bóng của ca dao, dân ca, vè bởi nỗ lực làm mới lục bát bằng cách tận dụng tối đa vần lưng, tạo nhịp theo một qui thức hoàn toàn mới: 2 – 2 – 3 – 1; 4 – 2 – 3 – 1; 5 – 3 – 1; 1 – 1 – 5 – 1…
Đó cũng là cách chơi khá mới mẽ của anh trong lục bát – một thể thơ cũ và dễ dẫn đến sáo mòn cho người sử dụng, khai thác, đó cũng là cái bẫy. 

Nếu như cái vẻ nhu mì
Rớt về ta đạn bom thì…hiểu không?
Muốn cho biển lặng trời trong
Thì thôi, gửi gió bế bồng, thế thôi!
Phải chăng có những kiếp người
Suốt đời lấy cái xa xôi làm gần.
(trích Tự thức – NHPD)

Chưa bao giờ tới Pleiku
Mà sao nhớ quắt quay như nhớ nhà
Nhớ làn môi bỏ bùa ta
Nhớ con mắt hạt dẻ già đắm sông

(trích Nhớ Pleiku – NHPD)
Với một dung lượng mỏng, chi phối không đáng kể trong toàn tập, nhưng lối viết thả lơi cảm xúc chảy theo dòng tự nhiên, không gắn gượng áp đặt một cấu tứ nhất định nào lên tác phẩm – viết automatic – giúp cho tập thơ có những khoảng rơi, những khúc phiêu dẫn dụ cảm giác vào một cảm quan mới lạ, thuần tính và chứa sức nặng suy tư… trong không gian mở của thơ văn xuôi, thơ hoạt tính…
Giọt trời xanh không ngoái lại cuối sông, cửa Đợi đang chờ. Đại ngàn lốm đốm lá vàng tơ theo con nước dập dềnh sóng vỗ. gặp Vu Gia sông chia đôi nhánh ghé Điện Bàn tắm táp vườn dâu. Tiếng thoi đưa lách cách đuổi nhau. Sự sống bừng bừng tở mở…
(trích Thu Bồn – NHPD)
Những chùm rêu bầu bạn áo xiêm em, cuộc hôn phối thời gian và cổ tháp. Điệu múa ấy làm hồi sinh phế tích, trong vô thanh phản phất nét ca Chàm. Cỏ bàng hoàng từ mấy trăm năm, em vẫn múa sá chi màu dâu bể. Đã tro bụi những hoàng triều chuyên chế, mọi trò chơi phù phiếm bậc quân vương. Người về đây để được tái sinh em, sự già cỗi hóa thanh xuân quyến rũ. Những gót nhảy tay xòe hông múa, không dễ tìm đâu trên thế gian này. Đừng hao mòn vì một thoáng mưa mây, Chiêm nữ ạ! Em vĩnh hằng tĩnh tại. Cứ vũ lộng hồn em đi, cô gái, thời gian xanh quì rạp trước em thôi.
Đừng bắt những chùm rêu phải nhận chịu đổi dời, xin van vỉ kẻ nguôi lòng cổ tích. Tôi muốn hóa thành rêu để ôm em thật chặt, mốc meo nhau ngôn ngữ không lời. trong hoang tàn diễm lệ…
(trích Mỹ Sơn – NHPD) 
Dù đứng ở góc độ nào, triển hạn trên phương diện nào nhằm tạo ra những mới lạ trong thi pháp, cấu trúc, ngôn ngữ thơ, vẫn bàng bạc đâu đó một dòng hoài niệm lẩn khuất dưới đáy câu chữ, bên trong những vỉa từ của Nói hộ phù du. Có lẽ sự bắt gặp nhiều nhất trong thơ Nguyễn Hàn Chung không nằm trong hình thức mới lạ và cũng không khu biệt trong những nỗ lực thay đổi hệ qui chiếu của chủ đề mà lại hàm chứa dáng dấp, chân dung của một con người luôn tha thiết sống, tha thiết yêu, tha thiết đau và cả tha thiết đón nhận nỗi đau như một người bạn cưu mang trong đời sống vốn mang nhiều hệ lụy và phi lý.
Phía trái căn nhà tôi ở
Có ông lão già quắt queo
Các con chia nhau vạt đất
Chia cho ông vạt nắng chiều
Phía phải căn nhà tôi ở
Có người đàn bà năm con
Mỗi con có riêng một bố
Bơ vơ đến sáu linh hồn
Phía trước căn nhà tôi ở
Lấp ló mươi nàng mắt xanh
Có người đạo cao như núi
Đến đây cũng biến mất hình
Phía sau căn nhà tôi ở
Có lối thông ra bến ngang
Tôi rủ chiều ra sau ngõ
Ngó đăm đắm lũy tre làng
Không thể chia lòng bốn phía
Nên còn nặng gánh đa đoan.
(Cạnh nhà tôi ở – NHPD)
Và viết, sáng tạo giống như là hành vi khẳng quyết sự tồn tại, khẳng quyết những bất an, trăn trở tử sinh được kí thác trên ngôn ngữ để rồi trả nó về với gió bụi không cùng. Khi những lời phù ảo bay lên, cũng là lúc người nghệ sĩ đối diện với bản ngã lao lung trên những bước hành hương dõi tìm diện mục, dõi tìm bóng dáng chân như… Và, trong mỗi sát na đi qua thường hằng sự sống, những câu thơ gắn trên hệ lụy đời người như một thoại đầu bất tận. Những nhận định chỉ mang tính chất võ đoán (nhận định của tôi cũng không nằm ngoài qui luật này) và làm rối mù hiện hữu. Nhưng dẫu sao, người đọc vẫn có quyền suy ngẫm, ôn lại những ấn tượng còn chìm khuất trong sương mù kí hiệu và bản ngã, dấu hiệu và tồn sinh, hiện tượng và vô cùng… như một lời tri âm trên mặt đất hoang vu này!
Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo.  
 
 

Phác lộ

                                                        Nguyễn Hàn  Chung

Phác lộ anh thiên tài cống rãnh
bủng beo em thời gian
rồi cũng trôi qua một đận bầm dập
mong ngóng nỗi gì

cái gì đến đã đến sẽ đi
cái gì đi đã đi sẽ đến
rốt cục tàn hơi tỉnh thức
quay về hú vang câm tức ngực
 
mụ người khói cay con mắt
không một ngụm rượu mà giọng cứ nhừa nhựa ủ ê thở hắt cớ sự lên bàn phím
ký tự bấu vào nát tan
cập nhật hóa ngai thờ đoạn trường cống rãnh

Phác lộ em những đường cong phập phù hằng cữu
sướng thiên thu  cây cỏ không biết buồn
ái ngại những đợt trận  phồn hoa phủ bùn lên nội y
con cúi
em à em

khói thuốc có  trù yểm  rù quyến được ai đâu
mà hăm hở đốt đền
anh sần sùi hét toáng lên cho đỡ mỏi chứ nào dám xa em sợ vung vãi tình yêu gây tội tình lũ nhóc
nỗi buồn  chó điên sùng sục cắn cấu vết thương vừa kéo da non
phác lộ mùa thu mòn  con đường giãy giụa
đừng trưng ra nữa quên đi đủ rồi

phù du làm sao mà nở bông huống hồ đòi đậu trái
chẳng qua bụi bẩn nhét đầy
giấc mơ anh mang máng có em
bao giờ cũng đến đi vô tăm tích

Phác lộ yếm em một giây huyền ảo
che chắn nỗi buồn ngập ngụa
tất thảy
ngai thờ cống rãnh
biến mù đi

August 8/08
 
 

Cuộc sinh tồn thon em

                                  
                           Nguyễn Hàn Chung

Cuộc sinh tồn thon em
trói chặt gã đàn ông ứ nhớ 
bầm uất không xuất
cơn mê dính chặt vào thân

Không có thơ
gâu gâu nỗi buồn bảy món
lũ hoạnh tài háu ăn

Chống mắt xác tín những lần giảo nghiệm húp chan
đời anh đời em đắng chát
vô vị vô vọng không lẽ vô vi
lấy gì phà vào sâu hun hút
đồng tiền bén ngọt cứa vào nhân luân mê hoặc

tất thảy mọi bộ phận không ngoại trừ

A men

Không đủ đảm lược nói mắt huyền tóc mơ chán chết
tất nhiên biết uế tạp
u mê anh cứ ham đeo đuổi cơn động dục lâm bồn

mặc em vun vào thánh thiện

mãn nhãn chớp tắt
còn hơn một đời lu câm
Trước khi thánh phải là người
dẫu trong tận cùng thực tướng
dẫu ngày thiên địa chuyển sát
dẫm lên húy kị  bươn rớt  chấp  chịu
đâu dám bỏ bê cuộc sinh tồn thon em

July 12/08

Trước bầy đầu Manikin (1)

                                               Nguyễn Hàn Chung

Trước mắt anh một bầy  đầu manikin kiều diễm
tóc mây loạn sắc
tóc mượt bay bay
tóc từ đâu lại
có trời mà biết nhưng chắc chắn không phải của những người đàn bà giàu sang
tóc người giàu  không bán

Anh cảm thấu mùi tóc mun  Asia mùi tóc quăn Africa xa xôi mùi gì gì đó cùng màu tóc mun em xưa cùng mùi rong rêu rừng rú  ruộng rẫy mùi sa mạc mùi đồng cỏ mùi cứt bò

Mùi của anh

Bầy manikin có những đôi mắt đẹp mê hồn long lanh vô cảm
Anh bất lực không nhận ra màu mắt em trú ngụ hà phương
Mà hồng non môi mọng tang  sao anh mất cảm giác hôn hít má bầu mặt mụn
Manikin và anh lạnh tanh

Anh  lùn tịt mà bầy đầu manikin lại ở trên cao
không thèm nhìn anh nửa con mắt
anh vẫn cố lừa anh theo kiểu phả hồn
không biết từ lâu khánh tận tình yêu thuần khiết ngày cập kề  tuổi teen

 Bầy đầu Manikin xõa tóc
 mỗi con nhìn một hướng
anh nhớ mùi  hương  chang (2) tóc mẹ
tóc manikin tuyệt không có gàu
tóc mẹ khen khét bài ca vọng cổ

Bầy đàn manikin  không hề biết giả dối 
tóc các châu  màu cơ cực
anh chán ghét bất cứ ai ký sinh màu tóc
để hát bài bên nhau…

July 08/08

(1)  đầu Manikin : đầu  hình nhân giả đội tóc thật (2) chang :lọn tóc của người phụ nữ dùng để bới thêm vào đầu tóc cho phồng, dài  thêm

                                          

MÔNG MUỘI

                         
                                          Nguyễn Hàn Chung
                                                  
Anh ném phao cứu sinh em vào thời gian
chấp chới con đường xa lắc
phao cứu sinh em lúc đến độ chìm
tất thảy
thánh thần úm ba la mông muội
Ru mỏi từng lóng xương khúc ca tình rủ rỉ sợ phật lòng
em ừ hử cho qua
anh trộn lẫn bún ,phở ,mì vào một bát cơm nghe toàn mùi khoai sắn

Câu ca dao lỗi đạo rủ rê anh từng đợt từng luồng
hơn cả đàn bà mê shopping đàn ông nghiện sex
đố chiêm tinh gia Trần Đoàn dịch số nào gieo quẻ đoán mò
nầy vượt biên nọ quan tham
ai phiền muộn hơn ai ?
Làm thơ không cố ý gieo vần nó lẽo đẽo bám theo sau
nhắc anh nhớ những con rầy nâu hút no màu  đòng đòng lúa trổ

Thôi đừng tiếc chuyện thích khách sang Tần chết banh thây nát xác
không có Trường thành vé tham quan bày bán cho ai
thôi đừng nhắc chuyện  bọn Tây dương bán mạng nước nghèo
cuộc thiên hạ chẳng bao giờ phân định hơn thua bằng tạch đùng..chóe… chóe…

 Anh ném phao cứu sinh em vào thời gian
 mọi con đường dương gian  đều có quỷ ma canh gác
cõi kia biết có hay không
chúng mình đều già quắp cần câu
bủng beo tình yêu cho buổi côn đồ vụng dại
làm thơ như gã khật khùng huyết âm lũng đoạn
may mà nhắc tới em là còn sướng rên

đỉnh cao của văn minh là mông muội thôi
đỉnh cao của tình yêu là  bày trò lừa gạt
đỉnh cao của nhân danh là sự đủ đầy

anh hấp thụ tinh âm con chữ mà phóng ra thôi
mặc cho bất kỳ ai chì bấc
chỉ riêng  phao cứu sinh em mới có quyền …

July 4 /08

Hèn Ta thơ

                                        Nguyễn Hàn Chung
1
quê

biết chắc mình trơn  như cá
thấy bộ dạng bức hiếp
tự nhiên  một sát na rùng mình
run bắn người
nghiêng chao
trong đầu không hiện một mảnh thơ nào
lấy gì để vịn ?
2
kiểng
 buổi sáng ỏm tỏi 
 tang thương dày xéo
 miệng hô như két
 đọc thơ vanh vách
 bắt nhỏ  học thuộc
 buổi chiều  get line
 chờ kêu tên interview
 con đường mù tăm sáng bảnh chọe !
3
di

quần quật quần quật
ngày mười ba tiếng
xương đánh đu với da
ốc đau no 
còn phải lo tôm bên nhà đớn khát
còn tơ tưởng cách tân xiếc chữ
phỉnh dỗ hèn ta
4
thơ

ông chính quăng cư..
ông chát quăng l…
ông đợi quăng că…
chẳng thành  nhà thơ cả đó sao
cớ gì kỳ khu thôi xao tỉ mẫn
dẹp mẹ ẩn dụ hàm ngôn du dương dụ gái
chuyên trị thơ tục  thơ rác thơ  phàm  cực khoái
sướng quá ta !

5
trá

quần dân ngu muội của Khổng Khâu
quần sinh mê muội của các tay lừa dối vĩ đại
tất thảy quần nhơn xuân lép hạ kẹp đều  muốn quần
nhưng bị luộc nên  bao giờ cũng xiết
6
thuật

ông Lê ông Trần hưởng cái án lâu năm thành tinh
rợn liều luộc chữ
đạt  dần  sáng giá cách tân
kẻ mon men chưa bị đóng đinh
cũng đòi cương
thành kẻ đạo
mà không được tuẫn bao giờ …

7
ngẫm

thường trong mười người
 có đến chín người không ưa ngụy quân tử
trong chín người có đến mười người
chấp chịu chân tiểu nhân
có điều ai cũng lắc đầu  nguây nguẩy
ngay khi chỉ có thơ với mình

8
tung

bông phèng khoác lác vừa phải
cho qua
thơ rác thơ dơ vừa phải
cho qua
hũ nút tắc tị nhiêu bấy
cho qua
xào đi xào lại chôm chỉa
cho qua
một chút quê  quê sông sông cỏ cỏ
một chút em em anh  anh bưởi bòng rạ rơm
rứa là thành nhà thơ
xoắn lấy nhau thỏa thuê tha hồ tung hứng

9
rụi

ông nào sắp tiêu ma cũng ức
giấu ba mặt ngấm vào trong
di bút di cảo di ngôn  luộc tùm lum
bởi biết ngày di quan đã tới
còng lưng gánh thời đại mình
nhất định thơ  hèn người hèn không có lổ…
huống gì ta miệng sên gan sứa

26/5/2008
 
 

Đánh cờ một mình

Nguyễn Hàn Chung                                        
                              
                          

      I                                              

Chơi cờ
ít nhất phải chơi tay đôi
Anh chơi một mình
cũng lạ ! 
Mỗi lần anh vượt sông
anh đều chia quân cản phá
Quay về thủ thành
anh thí mã
anh rụng pháo
anh rớt xe
cuộc cờ
tan nát cả

Cái giá phải trả
cho lối chơi cờ một mình
địch thủ cũng là Anh .

     Điện Bàn- Quảng Nam  1985
                            
                        II

Cờ sắp đến hồi tàn cuộc
anh còn cố dúi con tốt điều qua sông
liễu lĩnh làm cú chót

Cả đời quen thói  rề rề
bây giờ xa lộ thênh thang
con mã còm chết ngáp

Thôi những cú nhảy lò cò làm oai
với chốt
thôi những nước tấn ,bình gian nan
khai cuộc
quân pháo chui vào một góc
không ngòi
hòng nổ , nã được ai

Anh điều quân đi lộn tùng phèo
chẳng quân nào đủ sức
vào vai
những nước cờ quýnh quíu

Xa mã nhà người thôi phi nước kiệu
tốt đầu anh hết nước vô cung
Quân tướng nhà mình ứng chực đầu sông ?

   Houston-Texas 04/05/2008
 

Phu chữ kỳ khu bóng chữ hồn

                                       Nguyễn Hàn Chung
Mỗi lần chạm vào thơ Lê Đạt tôi lại nhớ mang máng mấy câu thơ của Lư Diên Nhượng không biết ở đời nảo đời nao bên Tàu:
 ‘’ Ngâm an nhất cá tự
Nhiên đoạn sổ hàng tu
Hiểm mịch thiên ưng muộn
Cùng sưu hải diệc khô “
Cũng là kiểu nói của Giả Đảo nhưng ông Lư nói huỵch toẹt cụ thể hơn nỗi khổ của công việc làm thơ( bởi bứt râu đau lắm đấy )
Nhà thơ phu chữ chắc chắn  phải khoái mấy ông này lắm nhưng theo thiển nghĩ (lại thiển nghĩ ) ông không hề bái phục bởi lẽ ông còn trên cơ tiền nhân khi chữ của ông không hề ‘’ ngâm an,ngâm thành ‘’ chút nào , bóng chữ của ông cựa  quậy ,co duỗi bất thường như một thứ huyễn tưởng không có gì kìm chế nổi. Ông bị rồi nên rất ý thức việc bắt  hàm nghĩa chữ phải lao dịch xây (Vạn Lý ) trường thành nhằm giảm bớt hoặc giả né đi hậu quả kích động thông báo của ý .
 ‘’ thu khuya ai xổ một hồi còi’’
Lê Đạt và Bùi Giáng lao động chữ  giống như hai cao thủ võ lâm nam đao và bắc kiếm nhưng sự kỳ khu phu chữ của Lê Đạt thường tất lộ còn ông Bùi thì khơi khơi mà kín kẽ hơn .Tuy nhiên cả hai ông đều đã được đả thông sinh tử huyền quan chữ rồi nên ẩn tàng trong chữ  thường hô biến biến nhiều chiêu thâm hậu khôn lường .
Anh Lê Đạt đã đi rồi. Nói cám ơn vụ Nhân Văn –Giai Phẩm thì quá phản cảm nhưng  như ông bà ta nói :Ơn kẻ dữ chứ không ai ơn người lành . Phải chăng vụ tàn diệt kia chính là tác nhân tạo bóng  chữ cho nhà thơ Lê Đạt.Nếu không  ?

Houston Texas
26/04/08

Phan Hoàng Phương

RẰM THÁNG BẢY  

Đêm nay
Chuyến tàu chở người từ cõi âm về đông nghẹt
Con không dám ra sân ga đón người
Không dám nhìn sâu vào di ảnh của người
Vì lại sợ người tin cậy
 
Ngày ấy, người đã dặn con điều gì
Trước khi nhắm mắt xuôi tay
Con đã ghi nhớ trong tim mà không làm được vậy
 
Người ơi
Chúng con đã từng ở cạnh nhau
Cùng bảo bọc trong những ý nghĩ của nhau
Thế mà giờ đây, chúng con ở cạnh nhau mà cách biệt tựa âm dương
 
Giá như ngày đó
Người  đừng đưa con đến dòng sông
U u mang mang như tiền định
Đừng để con chạm tay vào mặt nước
Lộ dần ham muốn trần gian
 
Đêm nay
Trăng trôi về một phía
Mây dạt về một phía
Lòng con đầy nỗi lo âu
Liệu mai kia hương khói có xa dần?
 
Chuyến tàu lại rời ga
Con sấp ngửa chạy theo mà  không ai hay biết
Con biết sẽ có ngày  con  được cùng người quay trở lại
Kiếm tìm ý nghĩa trần gian./.
     
2.TRĂNG MUÔN THUỞ
 
Mẹ ở nhà
Con đi chơi chốc lát
Trăng sáng qúa
Con chẳng biết đâu là đêm hay là ngày
Trăng sáng qúa
Mẹ cũng chẳng biết đâu là khuya hay là sớm
Con đi kẻo bạn chờ
 
Người mẹ ngồi xuống bên thềm
Mắt như dán vào bước chân con gái
Vằng vặc trên cao
Tha thiết một vầng trăng mời gọi
 
Suốt đêm
Cánh cửa khép hờ
Len lỏi dọi một vầng trăng muôn thuở./.
    
3.VỚI NỖI BUỒN CHƯA TỚI
  
Hãy mỉm cười với  tôi một lần nữa
Hỡi số phận dịu dàng
Hãy an ủi trái tim một lần nữa
Hỡi tình yêu thủy chung
 
Đêm nay vạn vật ngủ yên lành
Sao chất đầy một dãi
Sau lễ dâng hương là thì thầm câu hát
Mọi niềm vui thì đã qua
Còn nỗi buồn thì chưa tới
 
Mảnh trăng non cút côi
Nghiêng mình sau lưng núi
Chỉ còn dăm bữa nữa thôi
Là đến ngày rằm
Lúc ấy thì mọi điều sẽ khác./.
 

BẠCH THỦ TƯƠNG TRI DO ÁN KIẾM

Tản văn  Huỳnh Ngọc Chiến

                                             Thiên hạ mang mang ai người tri kỷ

                                             Lại đây cùng ta cạn một hồ trường!

                                                                                    Hồ Trường – Nguyễn Bá Trác
 

Con người sống trong đời, nếu không phải là bậc chân nhân thế ngoại tìm niềm vui trong cảnh giới tiêu dao tự tại của riêng mình, thì thường có nhu cầu đòi hỏi sự cảm thông và chia sẻ. Người ta thường nói, niềm vui có người chia sẻ sẽ được nhân đôi, còn nỗi buồn nếu có người chia sẻ sẽ vơi đi một nửa. Tôi muốn nói thêm: niềm vui nếu có bạn tri kỷ chia sẻ sẽ được tăng lên vô hạn, còn nỗi buồn nếu có bạn tri kỷ chia sẻ sẽ hầu như tan biến.

  Nhưng ở đời có thể tìm được chăng một người tri kỷ? Tấm lòng tri âm giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ, tình bạn tri kỷ giữa Quản Trọng và Bão Thúc Nha có lẽ chỉ còn là huyền thoại. Bạn tri kỷ chỉ do cơ duyên mà gặp, không thể gượng gạo mà cầu.

  Không riêng gì loài người mà cả loài vật cũng khát khao tìm tri kỷ, từ thế giới có sự sống của bao loài sinh vật cho đến thế giới tưởng chừng vô hồn của sỏi đá, cỏ cây. Tình tri kỷ không chỉ sưởi ấm lòng người mà còn phủ lên sỏi đá, cỏ cây những phần hồn linh động. Có khi tìm tri âm, tri kỷ trong loài vật lại đem cho ta nhiều an ủi hơn so với loài người! Những người có tài hoa và nhân cách, thuở bình sinh hoặc khi lâm vào những cảnh ngộ khốn cùng thường lấy loài vật làm tri kỷ. Loài vật, về mặt lý thuyết sinh vật học, còn tiến hóa dưới loài người nhiều bậc, nhưng về mặt thủy chung như nhất ắt hẳn vượt trên loài người rất xa. Nhất là ở vào thời buổi nhố nhăng này, thời buổi mà ngay cả những kẻ sĩ tưởng chừng như có được đôi chút nhân cách và sống với bạn thiết bằng tấm lòng “tri kỷ” thuở hàn vi, vừa mới thành đạt đã xênh xang trong vòng áo mũ, hợm hĩnh xem mình là “Thiên hạ đệ nhất nhân” kiểu Bạch Tự Tại của phái Tuyết Sơn, để vội vàng che giấu quá khứ nghèo hèn. Mà một kẻ toan chối bỏ quá khứ thì còn có tương lai chăng? Tôi linh cảm hai chữ “tri kỷ” chỉ có với con người trong thuở hàn vi.

  Trương Trào trong U Mộng Ảnh từng một câu tha thiết:

  “Trong thiên hạ có được một người tri kỷ, thì có thể không còn ân hận gì nữa. Đâu phải chỉ có con người mới thế, mà cả vật cũng vậy. Như cúc lấy Uyên Minh làm tri kỷ, mai lấy Hòa Tĩnh làm tri kỷ, trúc lấy Tử Do làm tri kỷ, sen lấy Liêm Khê làm tri kỷ, đào lấy những người trốn vua Tần làm tri kỷ, hạnh lấy Đổng Phụng làm tri kỷ, đá lấy Mễ Điên làm tri kỷ, trái vải lấy Thái Chân làm tri kỷ, trà lấy Lư Đồng, Lục Vũ làm tri kỷ, cỏ thơm lấy Linh Quân làm tri kỷ, thuần lư lấy Quý Ưng làm tri kỷ, chuối lấy Hoài Tố làm tri kỷ, dưa lấy Thiệu Bình làm tri kỷ, gà lấy Xử Tông làm tri kỷ, ngỗng lấy Hữu Quân làm tri kỷ, trống lấy Nễ Hành làm tri kỷ, tỳ bà lấy Minh Phi làm tri kỷ – Một khi đã gắn bó thì ngàn thu không đổi”.

  (Thiên hạ hữu nhất nhân tri kỷ, khả dĩ bất hận. Bất độc nhân dã, vật diệc hữu chi. Như cúc dĩ Uyên Minh vi tri kỷ; mai dĩ Hòa Tĩnh vi tri kỷ; trúc dĩ Tử Do vi tri kỷ; liên dĩ Liêm Khê vi tri kỷ; đào dĩ tỵ Tần nhân vi tri kỷ; hạnh dĩ Đổng Phụng vi tri kỷ; thạch dĩ Mễ Điên vi tri kỷ; lệ chi dĩ Thái Chân vi tri kỷ; trà dĩ Lô Đồng, Lục Vũ vi tri kỷ; hương thảo dĩ Linh Quân vi tri kỷ; thuần lư dĩ Quý Ưng vi tri kỷ; tiêu dĩ Hoài Tố vi tri kỷ; qua dĩ Thiệu Bình vi tri kỷ; kê dĩ Xử Tông vi tri kỷ; nga dĩ Hữu Quân vi tri kỷ; cổ dĩ Nễ Hoành vi tri kỷ; tỳ bà dĩ Minh Phi vi tri kỷ – nhất dữ chi đính, thiên thu bất di).

  Tất cả những loài động vật lẫn thực vật trong câu nói của Trương Trào sinh ra quả không uổng một phen tồn tại giữa cõi trần gian. Tôi xin ghi chú những điển tích lý thú và cảm động trong câu nói của Trương Trào, để bạn đọc cùng tham khảo và nghiền ngẫm.

  Cúc lấy Uyên Minh làm tri kỷ. Uyên Minh tức Đào Tiềm, hiệu Uyên Minh, nhà thơ lớn đời Đông Tấn, người đã trả áo từ quan về vui cảnh điền viên. Có bài Quy khứ lai từ rất nổi tiếng. Ông sống thanh cao, và rất yêu hoa cúc, làm nhiều bài thơ về hoa cúc. Trong hai mươi bài thơ “Ẩm tửu” có câu “Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam sơn” 菊,見 (hái cúc bờ rào phía Đông, xa xa thấy núi Nam).

  Mai lấy Hòa Tĩnh làm tri kỷ. Lâm Hòa Tĩnh tức Lâm Bô, nhà thơ đời Bắc Tống, được gọi là ”Tây Hồ ẩn sĩ”. Ông một mình ở Tây Hồ, nuôi hạc trồng mai, và thường bảo lấy mai làm vợ, lấy hạc làm con. Bài thơ Sơn viên tiểu mai với hai câu được xem là thần cú đã gắn liền hình ảnh nhà thơ ẩn đạt với cành mai.

Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển,

Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn

(Nước soi nghiêng bóng mai gầy

Dưới trăng, hương nhẹ thoảng bay trong chiều)

  Trúc lấy Hữu Quân làm tri kỷ. Hữu Quân tức Vương Huy Chi, con trai nhà thư pháp lỗi lạc Vương Hy Chi, tự Tử Do, người đời Đông Tấn. Theo “Thế thuyết tân ngữ”, Vương Huy Chi có lần đến ở trọ nhà người, bảo trồng trúc. Có người hỏi: “Ở tạm, sao phải phiền phức vậy?”. Vương chỉ cây trúc, bảo: “Hà khả nhất nhật vô thử quân?! (Làm sao có thể một ngày thiếu người này được?). Không thể sống không có trúc, dù chỉ một ngày. Thử hỏi trong đời còn có mối tình tri kỷ nào sâu đậm hơn chăng?

  Cúc lấy Liêm Khê làm tri kỷ. Liêm Khê tức Chu Đôn Di, nhà lý học đời Nam Tống, yêu hoa sen, có bài “Ái liên thuyết” nổi tiếng ở đời. Ông sống thanh cao, suốt đời chỉ yêu hoa cúc. Trương Trào cho rằng, cúc khiến người ta quê mùa (cúc linh nhân dã). Đây là cái “quê mùa” hồn nhiên, thuần phác, rất đáng trân trọng của những người gần gũi với thiên chân.

  Đào lấy những người trốn vua Tần làm tri kỷ. Theo “Đào hoa viên ký” của Đào Tiềm, có người nhặt cánh hoa đào trên suối, bèn lần theo con suối đi ngược về nguồn thì gặp một làng trồng toàn đào, sống thanh bình như cảnh thần tiên. Hỏi ra mới biết tổ tiên họ là những người trốn chính sách tàn bạo của nhà Tần, lánh đến đây sống. Hoa đào đem lại thanh bình cho những kẻ trốn thời bạo loạn.

  Hạnh lấy Đổng Phụng làm tri kỷ. Đổng Phụng là danh y thời Tam Quốc, tự Quân Dị. Mỗi khi chữa bệnh cho người, ông không lấy thù lao mà chỉ yêu cầu trồng hạnh – được hơn mười vạn gốc hạnh. Khi hạnh ra trái, ông đem đổi gạo để giúp người nghèo. Chư Phật bảo: “Cúng dường chúng sinh là cúng dường Tam Bảo”. Đổng Phụng là người đã dùng cây hạnh để làm Phật sự.

   Đá lấy Mễ Phí làm tri kỷ. Mễ Phí là thư pháp lớn đời Nam Tống. Ông yêu đá đến độ si cuồng, có lần khăn áo chỉnh tề ra lạy viên đá gọi là ”ông nhạc” nên bị đời gọi là Mễ Điên.

   Trái vải lấy Lệ Chân làm tri kỷ. Lệ Chân tức Dương Quý Phi, rất thích ăn trái vải (lệ chi) của đất Bắc Việt Nam. Đến mùa vải, Đường Minh Hoàng phải cho ngựa trạm mang vải từ miền Bắc Việt Nam đến kinh đô Trường An cho Dương Quý Phi.

  Trà lấy Lư Đồng, Lục Vũ làm tri kỷ. Lư Đồng là nhà thơ đời Đường, hiệu Ngọc Xuyên Tử, rất mê trà, có bài thơ Trà Ca lưu truyền ở đời. Lục Vũ được đời xưng tụng là “Trà Thánh” (ông thánh về trà), tác gia đời Đường có cuốn Trà Kinh, được xem là cuốn kinh điển về trà.

  Cỏ thơm lấy Linh Quân làm tri kỷ. Linh quân tức Khuất Nguyên, nhà thơ lớn đời Chiến Quốc, có tập Sở Từ nổi tiếng. Trong thơ, ông nói đến cỏ thơm để ví với lòng trung của người quân tử.

   Thuần lư lấy Quý Ưng làm tri kỷ. Trương Hàn, tự Quý Ưng, đời Tấn làm quan ở Lạc Dương, nghe gió thu nổi lên, bỗng nhớ món canh rau rút cá rô (thuần lư) ở quê nhà, bèn từ quan về quê; về sau từ “thuần lư” được dùng để chỉ lòng nhớ quê.

  Chuối lấy Hoài Tố làm tri kỷ. Hoài Tố là tăng nhân đời Đường, đệ tử của Huyền Trang. Tục tính là Tiền, tự Tàng Chân. Tương truyền ông trồng hàng vạn gốc chuối, dùng lá chuối để viết thay cho giấy.

  Dưa lấy Thiệu Bình làm tri kỷ. Thiệu Bình làm đến tước Đông Lăng hầu đời Tần. Nhà Tần mất, nhà lâm vào cảnh nghèo túng, phải trồng dưa ở phía đông thành Trường An để bán. Dưa lớn trái thơm ngon, người đời gọi là Đông Lăng qua (dưa của Đông Lăng hầu).

  Gà lấy Xử Tông làm tri kỷ. Theo Văn nghệ loại tụ thì Tống Xử Tông là Thứ sử đời Tấn, có lần mua được một con gà trống có tiếng gáy rất dài, thương yêu rất mực. Con gà học được tiếng người, thường cùng Tông nói chuyện suốt ngày, tỏ ra rất thông minh. Xử Tông nhờ đấy mà ăn nói giỏi giang thêm.

  Thiền sư Tăng Sảng, bạn nhà thơ Tô Đông Pha, có nuôi một con gà trống, mỗi khi ông tụng kinh thì con gà lại đến nằm một bên để nghe kinh. Như vậy, ta có thể nói thêm “Gà lấy Tăng Sảng làm tri kỷ”!

  Ngỗng lấy Hữu Quân làm tri kỷ. Hữu Quân tức Vương Hy Chi. Ông là nhà thư pháp lỗi lạc của Trung Quốc, chữ của ông rất quý. Tính ông rất thích ngỗng, có lần viết hai chương trong cuốn Đạo đức kinh để đem chữ đổi lấy một bầy ngỗng.

  Trống lấy Nễ Hành làm tri kỷ. Nễ Hành là cuồng sĩ đời Hậu Hán, được tiến cử lên vua Hán Hiến đế. Tào Tháo, lúc đó là Thừa tướng, sai người triệu Nễ Hành tới. Hành rất hận Tào Tháo lấn át quyền vua nên lúc đối đáp, Nễ Hành chê bai tất cả các văn quan võ tướng của Tào Tháo. Tháo muốn làm nhục, cho Hành làm chức Cổ lại để sớm tối đánh trống hầu những buổi thiết triều. Hành không từ chối. Hôm sau, Tào Tháo mở yến tiệc để thết tân khách, rồi sai Nễ Hành ra đánh trống. Tên đánh trống cũ bảo Hành phải mặc áo mới. Hành không thèm nghe, cứ mặc áo cũ mà vào, xắn tay đánh ba hồi trống, âm tiết tuyệt diệu, nghe văng vẳng như có tiếng đá, tiếng vàng ngân theo ai oán. Cử tọa ngồi nghe đều bùi ngùi sa lệ.

  Tỳ bà lấy Minh Phi làm tri kỷ. Minh Phi tức Chiêu Quân, cung phi đời Hán Nguyên đế (49-33 BC), một trong tứ đại mỹ nhân Trung Quốc. Bị triều đình nhà Hán đem cống cho vua Hung Nô để cầu hòa, Chiêu Quân mang theo cây tỳ bà về phương Bắc để dùng tiếng đàn thổ lộ hết nỗi niềm sầu hận. Sự tích Chiêu Quân cống Hồ với hình ảnh người con gái dung nhan tuyệt đại, mặc áo choàng đỏ, ôm cây tỳ bà, cưỡi con ngụa trắng giữa vùng thảo dã mênh mông đã là đề tài cho thi nhân Trung Quốc rất nhiều thế hệ.

  Vương Duy có bài thơ Chước tửu dữ Bùi Địch (cùng uống rượu với Bùi Địch) mà mỗi khi đọc bốn câu đầu, tôi không khỏi giật mình pha lẫn đôi chút ngậm ngùi:

Chước tửu dữ quân, quân tự khoan

Nhân tình phiên phúc tự ba lan

Bạch thủ tương tri do án kiếm

Chu môn tảo đạt tiếu đàn quan

(Rót rượu mời ngài, ngài cứ uống thong dong. Tình người tráo trở như sóng nước. Bạn tương tri giao du với nhau từ thuở đầu xanh cho đến khi tóc trắng, thế mà lúc gặp nhau vẫn còn để tay lên đốc kiếm đề phòng! Bạch thủ tương tri do án kiếm. Bạn thuở hàn vi đã sớm thành đạt thì cũng đừng nên tới thăm để khỏi bị cười vào mũi! Chu môn tảo đạt tiếu đàn quan).

  “Đàn quan” tả cái cử chỉ phủi mũ vội vàng để chuẩn bị lên đường. Theo “Vương Cát truyện” trong Hán Thư, thì đời Tây Hán có Vương Cát là bạn chí thân với Cống Vũ. Vương Cát làm quan lớn, Cống Vũ cũng vội vàng chuẩn bị khăn gói đến tìm bạn để xin một chức quan. Người đời gọi là “Vương Cát tại vị, Cống Vũ đàn quan”. Nhiều tài liệu cho rằng, câu đó biểu hiện sự khắng khít của tình bạn, nhưng không nhận ra ý mỉa mai ngầm. Cho nên trong câu thơ của Vương Duy mới thêm một chữ “tiếu” là cười. Đừng mơ mộng hão huyền khi muốn nhờ vả những người bạn chí cốt thuở hàn vi, khi họ đã bước chân vào thế giới của tiền tài và thế lực. Chữ “tri kỷ” tự cổ chí kim đã trở thành một món hàng xa xỉ trước bệ cổng nhà quan.

  Hán Quang Vũ nhà Hán khi còn nhỏ tuổi có một người bạn thân tên gọi Nghiêm Tử Lăng. Sau khi Hán Quang Vũ lên làm Hoàng đế, Nghiêm Tử Lăng bèn lánh ra Phú Xuân giang làm người câu cá. Hán Quang Vũ cho triệu ra làm quan, nhưng ông từ chối, không chịu “đàn quan”! Những kẻ đời nay sẽ cho đó là thái độ gàn, thậm chí ngu ngốc của một kẻ “không thức thời”, nhưng chính đó là một nhân cách lớn quá đỗi hiếm hoi.

  Mối tình tri kỷ “Một khi đã gắn bó thì ngàn thu không đổi” chẳng lẽ chỉ có giữa người và loài vật thôi ư, để khi gặp nhau không còn “án kiếm”? Vậy thì hạnh phúc vô cùng cho những ai có được một người tri kỷ để cùng nhau “cạn một hồ trường” giữa “thiên hạ mang mang”.( Dat Quang magazine)

H.N.C
 

Và khi rời HUẾ…

Phan Chín

Trong nồng nàn hương cỏ

Giữa rì rào thông reo

Bờ môi em nắng ấm

Ngự Bình quên sang chiều

Xõa ngang vai ngày Huế

Nghìn sợi xanh tóc thề

Gió thì thầm đắm đuối

Lời hẹn hò sơn khê

Hỏi làm chi trời đất

Huế trầm tư kiệm lời

Cứ nhìn sâu vào mắt

Tình theo về tinh khôi

Mình không lên Thiên Mụ

Sợ lời nguyền chia ly

Cùng xuôi về Vỹ Dạ

Nghe mùa lên xanh rì…

Vậy mà khi rời Huế

Môi còn hằn dấu môi

Mắt còn sâu trong mắt

Sao tình về xa xôi?…

P.C
 

Cảm ơn !

                                                                   Phương Dung 
Đợi mùa Xuân từ khi gió mùa Đông Bắc thổi

(Xuân sang anh lại quay về)

Em lạnh căm trong từng cơn gió nổi

Thắc thỏm chờ con nắng lập xuân
Có hiểu dùm em không anh

Em không còn trẻ nữa

Một chút gì tan vỡ đi qua

Trái tim bây giờ đã rã rời từng mảnh
Cảm ơn anh đã nhuộm xanh tóc em

Mùa xuân trở về rồi đó

Hãy len lén nhưng vội vàng

Em còn rất hiếm thời gian mộng tưởng
Cảm ơn anh đã yêu em

Đã xé hết mùa đông nhiều gió bấc

Để thắp cho em nhành mai vàng

Mừng tuổi!
Nếu có anh ở đây

Em sẽ hôn lên đôi bàn tay

Em sẽ gọi anh : Hạnh phúc !

Và có khi em khóc 
Nắng xuân từ anh có sáng nơi em

Em vẫn mong mùa xuân và vẫn sợ xuân sang

Bởi mình vẫn cách nhau : Vực thẳm!

Vẫn phải gọi thầm trong đêm.
Cảm ơn anh đã yêu em

Tình yêu của anh đã làm em trẻ lại mười lăm

Trẻ mãi trong lòng em, trẻ mãi

Nên cảm ơn hoài – Anh đã yêu em !

Thu Quảng -Đà thu Boston

                                                      Nguyễn Hàn Chung

 Mưa mảnh dẻ rù rì điệp khúc từ New Hamsphire
 Anh dìu em lụm cụm chạm bay vàng rụng
 Bunker hill,Lexington,Gò nổi ,Sơn trà
 Mùa trùng trùng lá xanh  đâu rồi !
 quắt quay bụi chuối gió nam Lào héo xàu
 ngắn ngủi  nụ tơ  phập phồng mù tít phương trời
 giông đen
 Mùa hãi hùng thu xưa ơi
Anh kiệu con xoi thủng mái tranh ngước nhìn
vô vọng
sống lưng
lạnh

Bạn già hát  công quả giữa chợ Dorchester
giọng khàn khàn vịt đực
Thu quyến rũ,Thu cô liêu, Thu hát cho người
thùng phước sương đầy chưa
Đôi má hóp mẹ già địu bủng beo niềm xứ sở
Freeway vun vút sáu làn xe rào rào
Sương như mo cau úp vào thảm vàng loang lổ
Lụt tràn đường cái đường đê rồi
Mẹ cúng ông chuồng bằng nước mắt
Thu ơi ta hãi thu mà thương thu như xé
Mùa chưa ngấm đã mọc mầm đau  triền miên bão tuyết
gối quê nhà trong chập chờn say

Gío lì lợm quất ngược
Thu chìm trong mưa mù  trừ âm âm độ
Líu lo ngọng nghịu phận lạc linh
Gió từ phương nào với anh cũng từ phương mùa đông bắc,nồm nam
Năm eo ngửa lòng hướng biển gió chướng triều lên
dập dềnh mái tôn trôi con chó già kinh hoàng ăng ẳng
Xe chui vào hầm xe lên cầu vượt
khúc tráng ca đường sá xứ người
rưng rức con đường quê mưa bùn nắng bụi
trốn tìm quanh quất bụi chuối bờ tre

Còn mấy thu vàng rơi
trên môi người tình già  còn chút dây mơ rễ má
Đỉnh Trường sơn trùng trùng Harvard University cao ngất
Anh phủi hết tóc mờ  bước nhanh đến thế nào cũng không bao giờ còn được tới ầu ơ ví dầu…

28/03/08

“trang thơ thập thò nhánh rẽ…”

Lý Đợi
“trang thơ thập thò nhánh rẽ…”
+ Đọc tập thơ Phía sóng của Phạm Tấn Dũng, Hội VH-NT tỉnh Quảng Nam, 1-2008.
 
 
Nghệ-Thuật là cao quý.

Người làm ra Nghệ-Thuật đã cao quý.

Người thưởng ngoạn Nghệ-Thuật còn cao quý hơn.(1)
 
 
Giới hạn bài viết:

Thứ nhất, bài viết ngắn này được thực hiện trong tư cách của một người đọc – một người bạn của tác giả, nghĩa là nhìn từ bên trong, với nhiều cảm tình; chứ không phải trong tư cách một nhà thơ, hay một nhà phê bình – một người ở bên ngoài, và đương nhiên sẽ phải nhìn từ phía khách quan, với những suy luận mang tính cách logic. Tại sao tôi nói điều này, vì nếu thay đổi tư cách này, hướng triển khai, góc nhìn và mục đích của bài viết sẽ hoàn toàn thay đổi.
Thứ hai, bài viết này xoay quanh khổ thơ cuối cùng trong bài “Tạ với thung xưa” ở trang 20 của tập Phía sóng. Từ cái nhìn có tính cách chủ yếu và khu biệt này, tôi nghĩ về cả tập thơ, và thử vẽ ra một vài chọn lựa của tác giả.
Thứ ba, cũng là lý do hết sức cá nhân, để ủng hộ một trong những người làm thơ đang sinh sống ở Điện Bàn, quê của gia đình tôi, nơi được xem là một “mảnh đất của thơ ca”(2), mà trong khoảng 5 năm qua lại không có một tập thơ nào tươm tất ra đời.
 
Tạ với thung xưa
Tôi nắng chiều ùa về gò xưa

Bằng đôi cánh chuồn chuồn

Như chớp vào chiều cánh hoa bằng lăng tím

Tìm bóng em dẻo thơm nước mắt

Bên cái nghèo lấp lánh

Bên cái ngày tôi bỏ chính tôi đi
Tôi là nắng mà không thành sóng nước

Tôi là em mà không tìm ra tiếng gọi

Kỷ niệm ngày xưa đuổi khói lên trời

Vì mong manh nên không đầu không cuối

Vì rong chơi xé áo bọc đường về

Tôi lau mồ hôi gọi tên em dưới sao đêm
Bầu trời ngày xưa còn thẹn thùng tiếng ếch

Sương khói cánh cò đậu trắng trong tôi

Tôi phả hơi vào đám rêu ngày về

Có tiếng lá rơi trong chiều nắng rụng
Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên

Trang thơ thập thò nhánh rẽ

Như muốn chở gió chở nước

Chở cỏ cây muộn màng hối lỗi

Chở gò đồi thắp sáng non xanh.
 
*
Với tư cách người đọc, tôi chọn bài thơ này để đọc không phải vì nó tiêu biểu cho phong cách cũ của tác giả, cũng không phải vì nó mới, có nhiều thử nghiệm nhất. 
Nếu chọn một bài tiêu biểu cho phong cách cũ, tôi sẽ chọn bài “Khía đàn ông” ở trang 43-44, vì ở bài này, vẫn là cách lý tưởng hoá cái tôi, để qua cái tôi này – cái bản thể luận duy nhất này – mà nhìn ra thế giới xung quanh. Đọc những câu như:

      … “Tôi ngửa tay xin đẹp

      Tôi tặng cả đất trời

      Tôi để dành nỗi lo

      Tôi giàu sang nước mắt con gái.”
… ai cũng có thể thấy có cái gì đó quen quen trong cách xây dựng cấu tứ, hình tượng. Một mỹ cảm và mỹ cảnh đã khá gần gũi với những ai quen đọc thơ tình những thập niên 1970-1990. Giữa một bên là chuyện “đại sự quốc gia” với muôn vàn khó khăn, giữa một bên là những “tâm sự loài chim biển”, những tình cảm riêng tư như vừa được nhắc đến, vừa mới chớm nở trở lại. Trong khi đời sống và tâm tư tình cảm thời nay thì không còn được như thế nữa.
Còn nếu chọn một bài khác cho phong cách mới, có đôi chút thể nghiệm của Phạm Tấn Dũng, tôi không ngại ngần khi chọn bài “Đá ong” ở trang 59-60, gần cuối tập, nơi chuẩn bị khép lại một giai đoạn cũ, để mở ra một cuộc chơi mới ở những tập tiếp theo. Hai đặc điểm để bài thơ này không thật mới – theo cách nhìn từ bút pháp – là vì nó vẫn còn lệ thuộc vào một vài vần lưng, và riêng ở khổ cuối, nó lại trả bài thơ, và đương nhiên, trả chính tác giả lại thời kỳ đầu của mình, nơi mà những tư duy về hình tượng và ngôn ngữ còn “cũ” hơn trong bài “Khía đàn ông”. Khổ cuối được tác giả viết như vầy:

… “Này đá ơi đừng buồn

này người ơi đừng khóc

khúc sông buồn rêu xanh

mai mưa lên ngày cũ

mát đoạn đời rong rêu”
… bài thơ này gồm có 7 khổ, 5 khổ đầu là một thể nghiệm với nhiều thành công của tác giả, còn 2 khổ cuối thì lại làm “khổ” chính tác giả. 
Thơ Phạm Tấn Dũng là một cuộc chơi mà sự băn khoăn đang ở chính giữa “mới” và “cũ”, một cấu tứ nhị phân. Y như câu thơ của chính anh: … “Trang thơ thập thò nhánh rẽ”. 
Trong một trật tự biểu trưng (Symbolic order), tập thơ này gần như hiển nhiên được sắp đặt trong một cấu trúc gần như được bày sẵn bởi các thiết chế xã hội, chuẩn mực ngôn ngữ – đạo đức, và cả quy cách tư duy về hình tượng đã tồn tại trước khi tác giả ra đời(3). “Trong lịch sử truyền thống, sự tìm kiếm cho ra những nguồn gốc trong những chân lý lớn lao về đạo đức là hoàn toàn bị lạc lối; mọi thứ đều phục tùng cái nhìn soi rọi đang làm phân rã của lịch sử. Không có những cái tuyệt đối. […] Chúng ta tin rằng những cảm xúc là không thể biến đổi, nhưng mọi tình cảm, đặc biệt là tình cảm cao thượng nhất và vô tư nhất, đều có một lịch sử. Chúng ta tin rằng, trong bất kỳ sự kiện nào, cơ thể cũng tuân thủ theo những luật riêng biệt của sinh lý học, và chúng ta tin rằng nó thoát khỏi ảnh hưởng của lịch sử, nhưng điều này cũng sai nốt.”(4) 
Vì những lý do như trên, rất khó để bác bỏ cách đọc của tôi là không mang tính lịch sử, và hoàn toàn sai lầm. Cho nên, tôi giả định cách nhìn của tôi là hợp lý, và đúng mực. Trong bài thơ “Tạ với thung xưa”, tôi thấy nó thể hiện rõ mấy điều sau đây: Khổ 1 được viết với nỗi niềm hoài nhớ về quê cha của tác giả, Gò Nổi: … “Tôi nắng chiều ùa về gò xưa”. Khổ 2 và 3, là những tâm tư cần giãi bày, là những suy nghĩ mong manh cần gởi gắm: … “Vì mong manh nên không đầu không cuối”. Và khổ cuối, mỗi câu, mỗi cụm câu là một chuyên chở rất cụ thể, thể hiện rõ “ý đồ” sâu kín của tác giả: 
- “Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên”: Phạm Tấn Dũng. Một cái tên mà chính như tác giả đã tỏ lộ ở bìa 2 của tập thơ: “Đã có thơ in trên các báo, tạp chí chuyên ngành, các tuyển tập TW và địa phương.”

- “Trang thơ thập thò nhánh rẽ”: những băn khoăn, tự tin như tôi đã nói ở trên. Một cuộc dằn co giữa cái hiện thời – cần vững bền, và cái cần thay đổi, mới hơn ở tương lai.

- “Như muốn chở gió chở nước / Chở cỏ cây muộn màng hối lỗi / Chở gò đồi thắp sáng non xanh.”: Từ một thế giới quan (“chở gió chở nước”) đi đến một cảm quan (“muộn màng hối lỗi”), rồi một ước mơ (“thắp sáng non xanh”).
Đọc được một khổ thơ, mà ở đó ẩn chứa được hầu khắp tâm tư của tác giả; ở đó là thông điệp của toàn tập thơ; là “cửa sổ” để nhìn vào quan điểm của người làm thơ… là một may mắn và hạnh phúc.
Hạnh phúc có tính cách riêng biệt của cá nhân, của trò phân tích ngôn ngữ, một trò ảo thuật và phù thuỷ. “Nơi người ta muốn bất chấp những dao động của tập quán ngôn ngữ bằng một chút chuyên quyền.” (S. Freud)(5). Nói như chính nhà tâm phân học này: … “Thế là ảo thuật căn bản đã thành nghệ thuật tác động đến các thần, bằng cách người ta quan trọng hoá chúng, tô hồng chúng, thiên vị chúng, đe doạ chúng, tước quyền chúng, vứt bỏ chúng theo ý thích của mình, bằng cùng những phương tiện mà người ta tìm ra một cách đích thực cho những người sống.”(6) Từ cách lý giải các trò ảo thuật và phù chú mà S. Freud đã quan tâm trước đây, tôi nghĩ vẫn có thể lý giải về văn học và các biểu hiện về văn hoá bằng cách này.
… “Đúng, Zarathoustra đã nói đúng, vì nghệ thuật làm ra mà không có ai hưởng ứng cũng như mặt trời kia soi sáng trên vùng đất chết, không sinh vật, thì nguồn sáng thiên liêng đó cũng vô ích.”(7) Ủng hộ và hưởng ứng công việc (không phải chuyên tâm và có tính chiến lược) của tác giả, tôi có thể “bất chấp” một vài giới hạn về định đề văn học, một vài định kiến vốn bày sẵn trong việc thẩm định nghệ thuật… để “nâng quan điểm” trong cách đọc và nhìn như ý muốn của riêng mình. Một cái nhìn như là một cuộc chơi, có tính cách “vui thôi mà”.
*
Chơi. Một khái niệm bao quát và thâm trầm. Nhưng cũng có thể là một khái niệm giản đơn và là một biểu hiện khá rõ nét trong tập Phía sóng. Và cũng là một chọn lựa của tác giả.
Trong một lần trò chuyện gần đây (khoảng giữa tháng 1.2008), Phạm Tấn Dũng nói: “Với tôi, viết báo, vẽ tranh, làm thơ… chỉ là một cuộc chơi không đầu không cuối. Vui vẻ, nhẹ nhàng và không chấp vào bất cứ điều gì.” Sau khi đọc Phía sóng, tôi tin vào lời nói có tính cách phát biểu này, vì ở đây thiếu một sự kiên quyết (ví dụ như bài “Đá ong” đã nói ở trên), thiếu một sự cực đoan cần thiết để vượt qua những “thập thò” có tính chất cố hữu trong bất kì người cầm bút nào.
Tuy nhiên, làm thế nào để thuyết phục người nghe và người đọc nhận biết việc làm thơ như là một cuộc chơi đích thực thì thật khó khăn. Bởi lúc nào “trang thơ [cũng] thập thò nhánh rẽ”, ở đó chứa một tham vọng, một ý đồ kiếm tìm một sự thay đổi, một giá trị, một địa vị về tên tuổi. Rõ ràng, thơ không phải từ hư vô sinh ra, và cũng không phải đi về hư vô. Bất kì một công việc, một câu thơ nào cũng chứa một ý định, một ước mơ, hay ít ra, một sự mộng du… đi về phía người đọc.

“Nơi góc vườn kia

Ai đó vừa thắp lên đoá trăng non

Đêm lệch về phía vỉa hè

Tiếng gió rung lên

Quét tôi cùng tiếng kêu đêm của loài chim mộng du”

      (Phía sóng, bài “Vườn khuya”, khổ 1, trang 19)
*
Trở lại với khổ cuối cùng trong bài “Tạ với thung xưa”, nếu được viết lại, tôi thử đề nghị một chuyển mạch có tính cách bậc thang (kiểu Maiacovsky), bỏ một vài cách viết hoa đầu dòng, để cảm xúc được liên tục chảy, và khát vọng được nhìn rõ hơn.

… Tôi cơn nắng ùa về mong vun cao cái tên

Trang thơ thập thò nhánh rẽ

Như muốn chở gió

      chở nước

      chở cỏ cây

      muộn màng hối lỗi

      chở gò đồi

      thắp sáng non xanh.
Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một ước vọng có tính chất “thập thò”, một hy vọng có tính chất ngông cuồng và tự kỷ. Một kiểu diễn ngôn (discourse) về văn bản, mà trong ý nghĩa rộng nhất của nó, nó có nghĩa là bất cứ điều gì được viết hay được nói hay được trao đổi bằng cách dùng những ký hiệu, và đánh dấu một sự liên hệ trực tiếp đến ngôn ngữ, và cả cấu trúc của ngôn ngữ đó.(8)
Và cuối cùng, cũng trong khả năng của diễn ngôn có tính cách tự kỷ này, tôi đã bỏ qua những ảnh hưởng về từ ngữ, về ý tưởng, về cấu tứ… mà Phía sóng đã ảnh hưởng trực tiếp từ những tác giả, tác phẩm trước, và cùng thời với nó. Bởi như đã nói từ đầu, đây là cách của một người đọc, chứ không phải cách của một nhà thơ – một nhà phê bình với những quan tâm về lịch sử và tiến trình của văn học. Bởi trong một quan tâm đích thực thì văn học và nghệ thuật có liên hệ chặt chẽ với tri thức, với quan điểm, với trình độ diễn ngôn của người phân tích, và đương nhiên, với cả hệ thống diễn ngôn mà xã hội áp đặt. Và như thế, cả cách viết bài này cũng là một sự thập thò, bởi những quan tâm kiểu mới-cũ, kiểu hay-dở… dường như không hợp thời; về lịch sử lý luận, nó đã bị vượt qua. Nhưng nghĩ cho cùng, “nghệ thuật mang tính siêu nhận thức (meta-epistemic): nó nói về hệ nhận thức như một tổng thể, một phúng dụ về những kết cấu ở bề sâu, những kết cấu làm cho tri thức có thể có được.”(9) Nghĩa là trong nội tại từng tác phẩm, từng tác giả, nó vẫn chấp nhận nhiều cách thức khá riêng rẽ, và nhiều khi không cần hợp thời.
Trong góc nhìn của người đọc, “kẻ viết tự vỗ về bằng ảo giác cho no đầy hy vọng.”(10)
 
Khúc Lũy, mồng Mười, xuân Mậu Tý – 2008.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tiễn bạn trước lò thiêu xứ khách

      
                                              Nguyễn Hàn Chung

Hài cốt tàn tro gọi thế nào cũng vậy
chung quy
tam mụi chân hỏa bên trời than lửa cố hương
không còn thấy bức
bụi lai khứ vòng vòng
tụ tụ tan tan
huề cả làng thôi oan khuất

lửa nung ba ngàn
tro tất
sá gì xương răng
may mà còn biết quá giang câu thơ
mắt lửa tròng vàng
sổ toẹt giận hờn
vuốt đuôi ấm ức

đừng huyễn về quả báo luân hồi
bánh vẽ ta bà còn không tham ăn
huống hồ phỉnh
mù tăm mù tít

Đáy huyệt lò thiêu
ức triệu sinh phần  mồi cá khác gì nhau
thêm một tẹo thời gian
bóng của phù du không lý bất cứ mệnh nào
nghĩa gì đâu trước sau tro nước

Nước mắt bi nước mắt hề
không có con mắt thấu thị xuyên tầng
đố con mắt điện tử nào  thấu được ?
    15/03/08                                    

Bản gốc

                                Nguyễn Hàn Chung

Tất nhiên  không bao giờ em muốn  
làm một người đàn bà đầu xuân
còn khoác chiếc áo tàn đông ủ rũ
ngồi bó gối dưới hiên mưa
chỉ vì em khát nhìn giọt rơi từ mắt người đàn ông 
lấy hân hoan trong cơn túng quẫn 
làm quà tặng ngày sinh em

người xưa phán định những cấm kỵ đàn bà đàn ông
bằng sự nhân danh quyền phép
thử hỏi có ai dám bò qua mép vực
thả thời gian xuống hố thẳm dò thử nông sâu?

cứ bàn tán hoài ích gì
ngày cứ lên,sông cứ chảy ,chim cứ hót
hoa tàn ,trái rụng, chồi xanh
già úa héo tàn tro ,trai trẻ phổng phao
niềm tin cũ bị bào mòn  thơ ngây niềm tin mới

trôi qua trôi qua
những đám mây không để lại dấu vết
kể cả những  ước mơ giản dị nhất
rồi cũng băng hà
không đợi những vì sao thiên di về một hướng

tất nhiên không bao giờ  anh biết được
vì sao em khoác chiếc áo tàn đông  nhàu úa
 ngồi bó gối dưới hiên mưa
nhưng anh hãy hiểu cho em
nếu tàn đông không mưa lấy gì  chồi non kịp nảy
lấy gì cho những người yêu nhau  phập phồng quấn quít

mưa cháy suốt chiều dài cuộc đời đàn bà
em còn chấp chịu
huống hồ
chi
1/2005
 

Tôi quày quả tôi

Tôi ùa hả hê thanh xuân vào cuộc man rợ cầm thú
ghì riết những tiếng gọi gào rát họng
phương châm động
sự mê muội quái dị vô cảm
một lũ hạnh phúc hiến phụng không tưởng

Người hát sông Gianh –súng đạn
bạn bè tôi nằm xác  lại vất vưởng không hình
(có những đứa khôn lanh nằm đại trên gường
trộn cả nắm vinh quang với hèn nhát nhằm giữ tấm thân huyết nhục tồi tàn)
chu kỳ tuổi trẻ tái diễn bội nhiễm
sao còn nỡ cuồng nộ xé nhau bằng những huyễn nghĩa vàng đỏ hữu hạn

thú thật tôi hằng tâm kính sợ những kẻ nhát gan
biết gậm nhấm khoái lạc
chủ nghĩa an thân thịnh trị
2
mà thôi
dù sao  dần thân tỵ hợi cũng đã xương tan cốt tán
thìn tuất sửu mùi miên viễn đi
mẹ ơi dốc tiêu muối qua hết phía bên kia rồi còn nhói lời mẹ dặn
dao chém đá mà dao không quằn ư con ?
3
bỏ đi đau như bò đá dái
hòn thót lên tim ức nghẹn
quần tơi tả  mà nhớ cứ nhớ đau cứ đau
có mà lạ
biết  vèo một hơi là thị ngạn
mà không chịu hồi đầu Eva
ngông nghênh hát khúc cũ mèm múa hoài tay trong bị
đứa nhát hít chê  thằng hèn đớn
ngó nhau dấu tiếng thở dài
chơi trò chàng nàng dục tính đam mê tụng hót với nhau bầy đàn xoắn xít
thương hồ thương nữ  thương ngân thương thân 
phạm trù thói lẽ thường
chữ nghĩa cùng mình hàng hàng đui điếc buồn thiu
mới hãi
xác diễn tập vãng lai hồn bày trò quy khứ
muôn sắc  màu  còn lại một màu em
4
Ai từng đứng ở ngã ba cứng người vì những nụ cười điêu
những giọng mềm vật dục
dù đã nhét vào đầu hàng ngàn câu triết
mới hiểu tình yêu bảo bối đến nhường nào !
phút tục tằn  đẻ ra  những vì sao

5
bên nớ bên ni hoàng hôn không đổi khác
chạng vạng bên này mai sớm phía bên kia
mặc sắc phục tình yêu  dĩ nhiên là hoạt
mà em ơi anh lại không đành
mẹ lấm lem dưới sình ngoáy tay vào hang cua chỉ gặp toàn vỏ ốc
anh còn mặt mũi nào vắt chân lên đời niệm thinh

 6
phế bỏ hoàng hôn đời chẳng còn thú vị nào
ăn ngon chỉ tổ thừa cân thôi là hết những đường cong háo hức
mặc đẹp  ngoài thân sát na ấy cởi ra là vất tất
phút rung người  quá độ đìu hiu
sông vẫn cạc cạc biển vẫn ù ù
 em dớn dơ dớn dác
 cuộc còn đen thui
7
Không đủ  tinh lực khóc cho ra khóc cười cho ra cười
bần bật bần bật tôi quày quả tôi


Sugarland Texas
29/02/08

Tôi quày quả tôi

  
                                 Nguyễn Hàn Chung
 1                       

Tôi ùa hả hê thanh xuân vào cuộc man rợ cầm thú
ghì riết những tiếng gọi gào rát họng
phương châm động
sự mê muội quái dị vô cảm
một lũ hạnh phúc hiến phụng không tưởng

Người hát sông Gianh –súng đạn
bạn bè tôi nằm xác  lại vất vưởng không hình
(có những đứa khôn lanh nằm đại trên gường
trộn cả nắm vinh quang với hèn nhát nhằm giữ tấm thân huyết nhục tồi tàn)
chu kỳ tuổi trẻ tái diễn bội nhiễm
sao còn nỡ cuồng nộ xé nhau bằng những huyễn nghĩa vàng đỏ hữu hạn

thú thật tôi hằng tâm kính sợ những kẻ nhát gan
biết gậm nhấm khoái lạc
chủ nghĩa an thân thịnh trị
2
mà thôi
dù sao  dần thân tỵ hợi cũng đã xương tan cốt tán
thìn tuất sửu mùi miên viễn đi
mẹ ơi dốc tiêu muối qua hết phía bên kia rồi còn nhói lời mẹ dặn
dao chém đá mà dao không quằn ư con ?
3
bỏ đi đau như bò đá dái
hòn thót lên tim ức nghẹn
quần tơi tả  mà nhớ cứ nhớ đau cứ đau
có mà lạ
biết  vèo một hơi là thị ngạn
mà không chịu hồi đầu Eva
ngông nghênh hát khúc cũ mèm múa hoài tay trong bị
đứa nhát hít chê  thằng hèn đớn
ngó nhau dấu tiếng thở dài
chơi trò chàng nàng dục tính đam mê tụng hót với nhau bầy đàn xoắn xít
thương hồ thương nữ  thương ngân thương thân 
phạm trù thói lẽ thường
chữ nghĩa cùng mình hàng hàng đui điếc buồn thiu
mới hãi
xác diễn tập vãng lai hồn bày trò quy khứ
muôn sắc  màu  còn lại một màu em
4
Ai từng đứng ở ngã ba cứng người vì những nụ cười điêu
những giọng mềm vật dục
dù đã nhét vào đầu hàng ngàn câu triết
mới hiểu tình yêu bảo bối đến nhường nào !
phút tục tằn  đẻ ra  những vì sao

5
bên nớ bên ni hoàng hôn không đổi khác
chạng vạng bên này mai sớm phía bên kia
mặc sắc phục tình yêu  dĩ nhiên là hoạt
mà em ơi anh lại không đành
mẹ lấm lem dưới sình ngoáy tay vào hang cua chỉ gặp toàn vỏ ốc
anh còn mặt mũi nào vắt chân lên đời niệm thinh

 6
phế bỏ hoàng hôn đời chẳng còn thú vị nào
ăn ngon chỉ tổ thừa cân thôi là hết những đường cong háo hức
mặc đẹp  ngoài thân sát na ấy cởi ra là vất tất
phút rung người  quá độ đìu hiu
sông vẫn cạc cạc biển vẫn ù ù
 em dớn dơ dớn dác
 cuộc còn đen thui
7
Không đủ  tinh lực khóc cho ra khóc cười cho ra cười
bần bật bần bật tôi quày quả tôi

Sugarland Texas
29/02/08

                        

Đêm thơ hội Blogger Đà Nẵng

Hai ngày trước ngày thơ Việt Nam, ba chàng ba nhà Nguyễn Ngọc Hạnh, Bùi Tự Lực, Đặng Ngọc Khoa rủ nhau tổ chức đêm thơ blog .Tưởng nói cho vui ai ngờ làm thật .Ở tận xứ sở Huê Kỳ, Chàng trai già Quảng Nam tui cũng được mãn nhãn. Hoành tráng lắm. Mời các bạn vào xem  mấy ảnh mần thơ blog thế nào …
=====================================================
DƯ ÂM ĐÊM THƠ BLOGGERS ĐÀ NẴNG : LẠ, VUI, CẢM ĐỘNG!
 Nguyễn Ngọc Hạnh
Lời thưa,

Nhân ngày thơ Việt Nam năm nay, Hội Bloggers Đà Nẵng đã tổ chức đêm thơ nhạc giao lưu tại Bảo Nam Trân Quán. Đây là điểm sinh hoạt nổi tiếng nhất nhì của Tp này. Đêm thơ nhạc đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho công chúng. Đến giờ phút cuối mà các đại biểu và các anh chị em văn nghệ sĩ vẫn không muốn ra về. Họ cứ nấn ná, lưu luyến trò chuyện mãi. Nhà thơ Bùi Công Minh cho rằng đây là đêm thơ nhạc đầy ấn tượng, cách tổ chức mới mẻ, chọn lọc và có chất lượng nghệ thuật cao so với nhiều cuộc tổ chức trước đây. Một sân chơi mới phong phú, hấp dẫn, thu hút được công chúng mà Ban tổ chức chỉ vỏn vẹn có mấy người trong Hội Bloggers Đà Nẵng thực hiện; không những chẳng tốn kém kinh phí mà còn mang lại cho những trẻ em bất hạnh số tiền thu được của các nhà hảo tâm trong đêm nay lên đến 25.400.000 đồng. Thật đáng ghi nhận sự nỗ lực đầy tâm huyết của các Bloggers Đà Nẵng . 
   

Bảo Nam Trân Quán, nơi diễn ra đêm thơ nhạc


Nhà thơ Bùi Công Minh

Nhà văn Bùi Tự Lực, CT Hội Blogger đọc lời khai mạc


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh … Bay mất ánh trăng !


MC Đặng Ngọc Khoa

================================================================================================

Đêm thơ nguyên tiêu Bloggers Đà Nẵng


LẠ, VUI, CẢM ĐỘNG!

                                                     Ghi nhanh của Đặng Ngọc Khoa
 

Đó là ý kiến chung của cử tọa tham dự đêm thơ nguyên tiêu do nhóm Bloggers Đà Nẵng tổ chức tại Cà phê Bảo Nam Trân (27 Nguyễn Chí Thanh, TP Đà Nẵng). Lạ vì khách mời đến dự qua tin nhắn SMS và khen ngợi, góp ý điều chỉnh âm thanh, ánh sáng cho MC cũng qua di động. Còn lạ vì có không ít thi hữu đọc tin trên mạng như  Nguyễn Đốc, Lê Anh Dũng cũng đến đọc thơ, không câu nệ giấy mời.

 

Hai nhà thơ nữ Võ Kim Ngân và Nguyễn Thị Anh Đào trong đêm thơ.

Hình thức đêm thơ cũng mới. Âm thanh, ánh sáng huyền hồ lấp loáng. Tác giả vừa đọc thơ vừa dạo bước qua hai nhịp cầu, trông “sành điệu” chẳng khác các sao. Các ca sĩ Đỗ Quyên, Thanh Trà, Cẩm Vân  hát với guitare hoặc play back vẫn nghe hay, nhiều cảm xúc. Đặc biệt các nhạc sĩ Trần Quế Sơn, Nguyễn Đức, Diệp Chí Huy, Nguyễn Văn Nho và các nhà thơ đến từ xa như Phan Xuân Sinh (Mỹ), Trần Từ Duy (TP HCM) cũng góp tiếng thơ lạ đối với TP Đà Nẵng vốn chưa từng có sinh hoạt văn nghệ mạng offline.


Nhà thơ Phan Xuân Sinh (Mỹ)đến với đêm thơ

 

Đài truyền hình DVTV cử tổ 4 phóng viên đến ghi hình, phỏng vấn nhà văn Bùi Tự Lực và các nhà thơ Võ Kim Ngân, Đặng Ngọc Khoa, Nguyễn Ngọc Hạnh, tiếp đó Thạc sĩ văn học Trương Vũ Quỳnh cũng của DVTV trình bày một số suy nghĩ khi thơ ca từ “thế giới ảo bước ra thế giới thật”.

 

Nhà báo Lâm Trà My, nhạc sĩ Trần Quế Sơn, Thạc sĩ Trương Vũ Quỳnh, nhạc sĩ Diệp Chí Huy.

Điều đó đã được chứng nghiệm trong đêm thơ Bloggers Đà Nẵng. Người nghe đến phút chót. Các tác giả không chỉ đến để đọc thơ, hát mà còn mang theo tác phẩm, tặng vật để thông qua chương trình, góp phần giúp đỡ trẻ em bất hạnh. Thật bất ngờ, mới giữa chương trình các nhà hảo tâm đã mua sạch tặng phẩm, tác phẩm với số tiền lên đến 25.400.000đ, trong đó Công ty Cổ phần 579 là một trong những cái tên đáng nhớ!

 

Kỹ sư Đàm Quang Tuấn, Công ty Cổ phần 579 một trong những mạnh thường quân của đêm thơ.

Nói với MC Đặng Ngọc Khoa sau đêm thơ, nhà thơ Bùi Công Minh (tác giả bài thơ do nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc: Hành khúc ngày và đêm) khích lệ: “Lạ, mới, hay và ấm áp tình người”.

ĐNK (từ biên giới Kon Tum- Attapư, 22.2.08).

Dưới đây là một số hình ảnh do nhiếp ảnh gia Lê Hải [và ĐNK] thực hiện.

Ca sĩ Đỗ Quyên phiêu bồng với ca khúc Hãy quay về của Diệp Chí Huy

Nhà thơ Trần Trình Lãm với giọng ngâm mượt mà

Nhà thơ Trần Từ Duy (ông Bùi Gáng dịch ra Duy… Từ Trần!) đến từ TPHCM đọc thơ tặng vợ và mua ủng hộ cuốn sách “Đặng Thùy Trâm, viết từ Cali và những cánh rừng ký ức” của Đặng Ngọc Khoa& Lê Thành Giai (Mỹ) với 2 triệu đồng (nộp liền tay cho Võ Kim Ngân)

Các nhà thơ chan hòa với khách mời. Bìa phải là nhà thơ Phan Xuân Sinh (Mỹ). Anh mang theo 3 tập thơ “Khi tình đang ru đời” (NXB Văn nghệ TPHCM 2008) ủng hộ chương trình.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức với ca khúc “Rong chơi” do anh sáng tác. Trước đó là  một ca khúc anh phổ thơ Lê Anh Dũng

VTV quay phim tư liệu đêm thơ



Nhà thơ Lê Anh Dũng gây sốc với bài thơ “Mắt em hiền như… mắt bò”

Nhà thơ nữ Liên Hương với bài “Chợ Quê”

Diệp Chí Huy bập bùng ca khúc Nghêu ngao. Bức tranh châu Phi của anh đã được anh Hùng, Công ty 579, mua ủng hộ 5 triệu đồng, cho trẻ em bất hạnh

Nhạc sĩ Trần Quế Sơn phiêu hốt “Cõng mẹ đi chơi”. Tấm ảnh hồi anh 1 tuổi (ở truồng) cùng bản chép tay ca khúc này đã mang đến cho trẻ em bất hạnh thông qua đêm thơ 2 triệu đồng

Càng về sau, đêm thơ càng sôi động. Khách mời Cẩm Vân với một ca khúc của Trần Quang Lộc& Nguyễn Đông Giang

Khách mời/ Thạc sĩ văn học Trương Vũ Quỳnh (DVTV) tản mạn về văn chương mạng…

Ông Lưong Minh Sâm (phải), giám đốc Sở Ngoại vụ TP Đà Nẵng, ủng hộ 3 triệu đồng thông qua tập ký sự Đặng Thùy Trâm có chữ ký của tác giả của Đặng Ngọc Khoa. Tổng cộng 3 tập ký sự này đã mang đến cho các em bất hạnh gần 7.000.000đ



Chương trình đã để lại ấn tượng đẹp và xúc động trong lòng hàng trăm người dự khán

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh (bìa trái), nhà văn Bùi Tự Lực (thứ 3 trái sang) và MC Đặng Ngọc Khoa (bìa phải) tặng hoa cảm ơn doanh nghiệp trẻ Đỗ Long, chủ nhân Bảo Nam Trân

Mai Hữu Phước

NHỮNG BLOGGER ĐẤT QUẢNG
Published on 02/24,2008

Photobucket

Vài ngày trước Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008, tôi nhận bất ngờ nhận được email của Quỳnh Lệ, phóng viên tạp chí điện tử Người viễn xứ của e-báo Vietnamnet với thông tin: “Chúc mừng bác sĩ góp mẹt hoành tráng trên tạp chí echip”.
Tôi giật minh. Bởi lẻ tôi đâu có viết gì cho tạp chí này, và bạn bè cũng không có ai allo là giới thiệu tôi trên tạp chí này. Tạp chí echip thì tôi có thấy trên quầy, nhưng tôi thật tình là chưa đọc nó bao giờ. Tôi đảo quanh các quày tìm… tôi trên tạp chí đó mà không tìm ra. Lên mạng tôi thấy website của echip có giới thiệu giai phẩm echip mừng Xuân Mậu Tý 2008 (ra ngày 18/01/2008) có bài viết nhan đề Những blogger đất Quảng. Tôi đoán tôi… nằm trong đó !
Không rõ tạp chí nay bán quá chạy ở Đà Nẵng hay số lượng về ít mà không tìm ra. Tôi vẫn để ý thấy có những tờ echip cũ người ta vẫn bày bán dài hạn trên quày, nên sau Tết tôi lại lòng vòng tìm mua “phế phẩm”, vì không biết ai có số này để mượn dòm thử.
Hơn 1 tháng tính từ thời điểm phát hành tôi mới lùng ra nó. Giá bìa của giai phẩm xuân là 19.500 đồng. Nhưng “phế phẩm” mà tôi mua cũng “cứng” giá 15.000 đồng. Thôi thì cứ xem như đang ở trong thời điểm mà tạp chí mới phát hành và tôi mua với giá “khuyến mãi” rẽ một cách dễ chịu.
Những blogger đất Quảng được viết bởi Tạ Xuân Quan. Tác giả bài viết và tạp chí đã ưu ái tấm hình tôi to đùng trên trang thứ nhất. Bên trên là hình chụp trang web của Chàng trai già Quảng Nam là nhà thơ Nguyễn Hàn Chung (quê Điện Bàn) từ bên kia nửa địa cầu. Trang thứ hai của bài viết có hình trang web của Nguyễn Mậu Hùng Kiệt (Quế Sơn), hình nhà báo Phan Chín đang “sờ” con chuột, đứng bên cạnh là hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Minh Tạo. Một tấm ảnh nhỏ hơn là blogger, nhà báo Nguyễn Minh Sơn (tức Hoa Ngõ Hạnh) đang xách… giày leo dốc núi, phía sau lưng anh là con đường loằng ngoằng xa tít tắp… Bài báo đến nữa trang thứ 3 mới kết thúc.
Dưới đây là ảnh chụp hai trang đầu của bài báo để giữ làm lưu niệm
Photobucket
Photobucket

Thêm góp ý

Tiêu đề
Nội dung var ed1 = new Lifetype.UI.Editor(‘commentText’,'ed1′);

8 pt10 pt12 pt14 pt18 pt24 pt36 ptbolditalicsunderlinestrikethroughalign leftalign centeralign rightalign justifyquoteordered listunordered listanchorimage
Tên của bạn nguyenhanchung (Đã đăng nhập)
Địa chỉ email
Blog của bạn (http://tenban.vnweblogs.com)
Chuỗi kiểm tra  authimage (Hãy nhập dãy số này vào ô bên cạnh)

Powered by vnWeblogs

Mai Hữu Phước

NHỮNG BLOGGER ĐẤT QUẢNG
Published on 02/24,2008

Photobucket

Vài ngày trước Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008, tôi nhận bất ngờ nhận được email của Quỳnh Lệ, phóng viên tạp chí điện tử Người viễn xứ của e-báo Vietnamnet với thông tin: “Chúc mừng bác sĩ góp mẹt hoành tráng trên tạp chí echip”.
Tôi giật minh. Bởi lẻ tôi đâu có viết gì cho tạp chí này, và bạn bè cũng không có ai allo là giới thiệu tôi trên tạp chí này. Tạp chí echip thì tôi có thấy trên quầy, nhưng tôi thật tình là chưa đọc nó bao giờ. Tôi đảo quanh các quày tìm… tôi trên tạp chí đó mà không tìm ra. Lên mạng tôi thấy website của echip có giới thiệu giai phẩm echip mừng Xuân Mậu Tý 2008 (ra ngày 18/01/2008) có bài viết nhan đề Những blogger đất Quảng. Tôi đoán tôi… nằm trong đó !
Không rõ tạp chí nay bán quá chạy ở Đà Nẵng hay số lượng về ít mà không tìm ra. Tôi vẫn để ý thấy có những tờ echip cũ người ta vẫn bày bán dài hạn trên quày, nên sau Tết tôi lại lòng vòng tìm mua “phế phẩm”, vì không biết ai có số này để mượn dòm thử.
Hơn 1 tháng tính từ thời điểm phát hành tôi mới lùng ra nó. Giá bìa của giai phẩm xuân là 19.500 đồng. Nhưng “phế phẩm” mà tôi mua cũng “cứng” giá 15.000 đồng. Thôi thì cứ xem như đang ở trong thời điểm mà tạp chí mới phát hành và tôi mua với giá “khuyến mãi” rẽ một cách dễ chịu.
Những blogger đất Quảng được viết bởi Tạ Xuân Quan. Tác giả bài viết và tạp chí đã ưu ái tấm hình tôi to đùng trên trang thứ nhất. Bên trên là hình chụp trang web của Chàng trai già Quảng Nam là nhà thơ Nguyễn Hàn Chung (quê Điện Bàn) từ bên kia nửa địa cầu. Trang thứ hai của bài viết có hình trang web của Nguyễn Mậu Hùng Kiệt (Quế Sơn), hình nhà báo Phan Chín đang “sờ” con chuột, đứng bên cạnh là hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Minh Tạo. Một tấm ảnh nhỏ hơn là blogger, nhà báo Nguyễn Minh Sơn (tức Hoa Ngõ Hạnh) đang xách… giày leo dốc núi, phía sau lưng anh là con đường loằng ngoằng xa tít tắp… Bài báo đến nữa trang thứ 3 mới kết thúc.
Dưới đây là ảnh chụp hai trang đầu của bài báo để giữ làm lưu niệm
Photobucket
Photobucket

Thêm góp ý

var ed1 = new Lifetype.UI.Editor(‘commentText’,'ed1′);

8 pt10 pt12 pt14 pt18 pt24 pt36 ptbolditalicsunderlinestrikethroughalign leftalign centeralign rightalign justifyquoteordered listunordered listanchorimage

nguyenhanchung (Đã đăng nhập)
(http://tenban.vnweblogs.com)
 authimage (Hãy nhập dãy số này vào ô bên cạnh)

Powered by vnWeblogs

Mai Hữu Phước

NHỮNG BLOGGER ĐẤT QUẢNG
Published on 02/24,2008

Photobucket

Vài ngày trước Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008, tôi nhận bất ngờ nhận được email của Quỳnh Lệ, phóng viên tạp chí điện tử Người viễn xứ của e-báo Vietnamnet với thông tin: “Chúc mừng bác sĩ góp mẹt hoành tráng trên tạp chí echip”.
Tôi giật minh. Bởi lẻ tôi đâu có viết gì cho tạp chí này, và bạn bè cũng không có ai allo là giới thiệu tôi trên tạp chí này. Tạp chí echip thì tôi có thấy trên quầy, nhưng tôi thật tình là chưa đọc nó bao giờ. Tôi đảo quanh các quày tìm… tôi trên tạp chí đó mà không tìm ra. Lên mạng tôi thấy website của echip có giới thiệu giai phẩm echip mừng Xuân Mậu Tý 2008 (ra ngày 18/01/2008) có bài viết nhan đề Những blogger đất Quảng. Tôi đoán tôi… nằm trong đó !
Không rõ tạp chí nay bán quá chạy ở Đà Nẵng hay số lượng về ít mà không tìm ra. Tôi vẫn để ý thấy có những tờ echip cũ người ta vẫn bày bán dài hạn trên quày, nên sau Tết tôi lại lòng vòng tìm mua “phế phẩm”, vì không biết ai có số này để mượn dòm thử.
Hơn 1 tháng tính từ thời điểm phát hành tôi mới lùng ra nó. Giá bìa của giai phẩm xuân là 19.500 đồng. Nhưng “phế phẩm” mà tôi mua cũng “cứng” giá 15.000 đồng. Thôi thì cứ xem như đang ở trong thời điểm mà tạp chí mới phát hành và tôi mua với giá “khuyến mãi” rẽ một cách dễ chịu.
Những blogger đất Quảng được viết bởi Tạ Xuân Quan. Tác giả bài viết và tạp chí đã ưu ái tấm hình tôi to đùng trên trang thứ nhất. Bên trên là hình chụp trang web của Chàng trai già Quảng Nam là nhà thơ Nguyễn Hàn Chung (quê Điện Bàn) từ bên kia nửa địa cầu. Trang thứ hai của bài viết có hình trang web của Nguyễn Mậu Hùng Kiệt (Quế Sơn), hình nhà báo Phan Chín đang “sờ” con chuột, đứng bên cạnh là hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Minh Tạo. Một tấm ảnh nhỏ hơn là blogger, nhà báo Nguyễn Minh Sơn (tức Hoa Ngõ Hạnh) đang xách… giày leo dốc núi, phía sau lưng anh là con đường loằng ngoằng xa tít tắp… Bài báo đến nữa trang thứ 3 mới kết thúc.
Dưới đây là ảnh chụp hai trang đầu của bài báo để giữ làm lưu niệm
Photobucket
Photobucket

Thêm góp ý

Tiêu đề
Nội dung var ed1 = new Lifetype.UI.Editor(‘commentText’,'ed1′);

8 pt10 pt12 pt14 pt18 pt24 pt36 ptbolditalicsunderlinestrikethroughalign leftalign centeralign rightalign justifyquoteordered listunordered listanchorimage
Tên của bạn nguyenhanchung (Đã đăng nhập)
Địa chỉ email
Blog của bạn (http://tenban.vnweblogs.com)
Chuỗi kiểm tra  authimage (Hãy nhập dãy số này vào ô bên cạnh)

Powered by vnWeblogs

PHIÊN CHỢ ĐẦU NĂM

                                                                                                     Lương Mỹ Linh
      Ngày tết qua mau. Với tuổi mẹ bây giờ, Tết chưa cạn miếng trầu. Xong mâm cơm tiễn đưa ông bà, mẹ lại ra vườn. Phiên chợ đầu năm không bán được nhiều. Thời buổi bây giờ, có sự trợ giúp của máy móc, người ở phố đã trữ khá nhiều rau trái từ trước Tết. Chợ đầu năm chỉ xôn xao trong một thời điểm nhất định, không quá sớm và cũng không quá trễ. Chẳng ai phải lo đi chợ sớm để mua sắm sau những ngày Tết mệt nhoài. Cũng không ai nán lại để bán thêm tí chút khi đã quá trễ. Thao tác mua bán được đơn giản, người mua nhanh chóng mua những thứ cần. Người bán cũng khá dễ dãi. Giống như chút lộc xuân lì xì cho nhau nhân đầu năm mới, mong sao có được một năm mua bán thuận hòa.

      Dù đã dự định những loại rau trái cần bán và bán được cho buổi chợ đầu năm, nhưng mẹ vẫn cứ tần ngần mãi trong vườn. Thật kỳ lạ, ai bảo rằng cỏ cây không có tuổi. Chợ chiều ba mươi, mẹ đã cố tình hái non một chút rau trái, ước tính sau ba ngày Tết, những thứ còn lại sẽ vừa đúng lứa. Nhưng hình như rau trái đã không theo dự tính của mẹ. Không phải ba ngày đi qua, mà là một năm đã đi qua. Chúng cũng vừa thêm một tuổi mới, chững chạc và già dặn hơn. Theo đà này, mẹ phải lại tiếp tục các phiên chợ kế. Nhất định lũ cháu con sẽ lại « ra mặt giận » vì một bà già « ham đi chợ ». Mẹ hiểu tấm lòng các con. Và mẹ cũng « thấu » được tâm tình cây trái trong vườn. Chúng mong chờ bàn tay của mẹ biết bao. Khu vườn này sẽ ra sao nếu vắng đi bóng hình của mẹ ! Các cháu con không ai theo « nghiệp » này, bởi với chúng, chút thành quả thu về chẳng đâu vào đâu. Và đằng sau đó nữa, dẫu cố bỏ ngoài tai, mẹ vẫn phong phanh nỗi buồn về những dự định, về cơn sốt đất đai đang len lõi trong từng lối xóm. Sẽ ra sao khi vùng quê thiếu vắng những khu vườn, thiếu vắng mùi hương rau trái…

      Mà thôi, phiên chợ đầu năm, không nên vẩn vơ nhiều như thế. Mẹ nhẹ nhàng hái trái và nhổ rau, mỗi thứ một ít thôi, để chúng khỏi so bì nhau. Đời rau trái, có lẽ hạnh phúc nhất của chúng là khi được đến với muôn nhà, tự hào được sang trọng lên mâm cùng bao vật phẩm khác. Chứ cứ để úa rũ nơi góc vườn, mẹ buồn một, nhưng chắc chúng tủi mười. Mẹ đi quanh khu vườn, xem xét kỹ từng luống rau, vồng đậu, xem thử có lũ sâu, cái tí nào quấy phá khi mẹ nghỉ Tết không. Xong đâu đấy, mẹ mới rời vườn, không quên gởi lại nụ cười hài lòng.

      « Đầu năm mua muối, cuối năm mua hoa », phiên chợ đầu năm của mẹ nhất định phải thế. Gói muối cho một năm mới tình nghĩa mặn mà!

     

PHIÊN CHỢ ĐẦU NĂM

                                                                                                     Lương Mỹ Linh
      Ngày tết qua mau. Với tuổi mẹ bây giờ, Tết chưa cạn miếng trầu. Xong mâm cơm tiễn đưa ông bà, mẹ lại ra vườn. Phiên chợ đầu năm không bán được nhiều. Thời buổi bây giờ, có sự trợ giúp của máy móc, người ở phố đã trữ khá nhiều rau trái từ trước Tết. Chợ đầu năm chỉ xôn xao trong một thời điểm nhất định, không quá sớm và cũng không quá trễ. Chẳng ai phải lo đi chợ sớm để mua sắm sau những ngày Tết mệt nhoài. Cũng không ai nán lại để bán thêm tí chút khi đã quá trễ. Thao tác mua bán được đơn giản, người mua nhanh chóng mua những thứ cần. Người bán cũng khá dễ dãi. Giống như chút lộc xuân lì xì cho nhau nhân đầu năm mới, mong sao có được một năm mua bán thuận hòa.

      Dù đã dự định những loại rau trái cần bán và bán được cho buổi chợ đầu năm, nhưng mẹ vẫn cứ tần ngần mãi trong vườn. Thật kỳ lạ, ai bảo rằng cỏ cây không có tuổi. Chợ chiều ba mươi, mẹ đã cố tình hái non một chút rau trái, ước tính sau ba ngày Tết, những thứ còn lại sẽ vừa đúng lứa. Nhưng hình như rau trái đã không theo dự tính của mẹ. Không phải ba ngày đi qua, mà là một năm đã đi qua. Chúng cũng vừa thêm một tuổi mới, chững chạc và già dặn hơn. Theo đà này, mẹ phải lại tiếp tục các phiên chợ kế. Nhất định lũ cháu con sẽ lại « ra mặt giận » vì một bà già « ham đi chợ ». Mẹ hiểu tấm lòng các con. Và mẹ cũng « thấu » được tâm tình cây trái trong vườn. Chúng mong chờ bàn tay của mẹ biết bao. Khu vườn này sẽ ra sao nếu vắng đi bóng hình của mẹ ! Các cháu con không ai theo « nghiệp » này, bởi với chúng, chút thành quả thu về chẳng đâu vào đâu. Và đằng sau đó nữa, dẫu cố bỏ ngoài tai, mẹ vẫn phong phanh nỗi buồn về những dự định, về cơn sốt đất đai đang len lõi trong từng lối xóm. Sẽ ra sao khi vùng quê thiếu vắng những khu vườn, thiếu vắng mùi hương rau trái…

      Mà thôi, phiên chợ đầu năm, không nên vẩn vơ nhiều như thế. Mẹ nhẹ nhàng hái trái và nhổ rau, mỗi thứ một ít thôi, để chúng khỏi so bì nhau. Đời rau trái, có lẽ hạnh phúc nhất của chúng là khi được đến với muôn nhà, tự hào được sang trọng lên mâm cùng bao vật phẩm khác. Chứ cứ để úa rũ nơi góc vườn, mẹ buồn một, nhưng chắc chúng tủi mười. Mẹ đi quanh khu vườn, xem xét kỹ từng luống rau, vồng đậu, xem thử có lũ sâu, cái tí nào quấy phá khi mẹ nghỉ Tết không. Xong đâu đấy, mẹ mới rời vườn, không quên gởi lại nụ cười hài lòng.

      « Đầu năm mua muối, cuối năm mua hoa », phiên chợ đầu năm của mẹ nhất định phải thế. Gói muối cho một năm mới tình nghĩa mặn mà!

     

Bài ca tháng chạp

          

Huỳnh Minh Tâm

                              

                   

Giữa bùn nhão mùa đông cánh đồng ướt lem nỗi nhớ màu xanh lúa mới

Chợt đến chùm hạt giống mùa vụ bàn tay em non mỏng giêng hai

Tiếng gọi nỉ non bền bỉ cuối trời như bản năng nguyên thủy

Anh đi răng rụng tóc rụng đôi bờ chuối khô

Vầng trăng ơi! giấc mộng đời hư ảo

Chập chững vào năm tận mây bay

Trả ký ức tháng năm mang nặng sầu lo nợ nần chữ nghĩa

Anh sẽ sống hào hởi yên vui sẽ tiêu xài sức lực ý tứ mênh mang

Những trò chơi đâu dễ dàng gì!

Qua khúc rẽ ba lại vào rẽ bảy

Ai nhận giữ tiềm thức nỗi đau năm trước

Chẳng phải mùa xuân mây nước bỡn cợt một đàn bò tơ một bãi cỏ non?

Chẳng phải bài ca từ biệt mê ly đắm đuối thế kia

Những vườn cao nằm chết ngất ngây giá rét

Chợt bàn tay ta nở ra một chú chim con

Vỗ cánh bên những cây bút chỏng chơ quằn quại.

Giữa bùn nhão mùa đông cánh đồng ướt lem nỗi nhớ màu xanh lúa mới

Chợt đến chùm hạt giống mùa vụ bàn tay em non mỏng giêng hai

Tiếng gọi nỉ non bền bỉ cuối trời như bản năng nguyên thủy

Anh đi răng rụng tóc rụng đôi bờ chuối khô

Vầng trăng ơi! giấc mộng đời hư ảo

Chập chững vào năm tận mây bay

Trả ký ức tháng năm mang nặng sầu lo nợ nần chữ nghĩa

Anh sẽ sống hào hởi yên vui sẽ tiêu xài sức lực ý tứ mênh mang

Những trò chơi đâu dễ dàng gì!

Qua khúc rẽ ba lại vào rẽ bảy

Ai nhận giữ tiềm thức nỗi đau năm trước

Chẳng phải mùa xuân mây nước bỡn cợt một đàn bò tơ một bãi cỏ non?

Chẳng phải bài ca từ biệt mê ly đắm đuối thế kia

Những vườn cao nằm chết ngất ngây giá rét

Chợt bàn tay ta nở ra một chú chim con

Vỗ cánh bên những cây bút chỏng chơ quằn quại.

VỚI THÁP BẰNG AN

VỚI  THÁP BẰNG AN
                                                    Nguyễn Hàn Chung
 

Người người hoan ca  Mỹ Sơn quần tháp  rêu phong
 trơ trọi một mình em ,một tháp
 mấy ai biết
 muốn trả cái giá bằng an
 bao thân thế sa mưa
 bụi vùi, rêu lấp

 Ta có  mấy rượu đâu
mà tiếc đau những cặn giọt thừa
 những cộng cỏ trước sân khát khao đòi sáng
dưới cỏ có dế, giun chán vạn  rẻo đời sinh, ly, tụ, tán.
có khi  thèm trơ trọi giống hai ta!

Một là người không có lương tâm hai là bậc vĩ nhân
mới dám gọi tháp già
trước huyền hoặc vô cùng  ẩn ngữ
không ai trước khi sinh ra đã  biết chọn cho mình một bằng an quê xứ
phúc phận  đời ta  sinh quán cùng em
cớ gì đêm nay  không  dốc cho sụp đổ hết ưu phiền
bắt  đôi nghê đá khuân bàn tiếp rượu

Kính nể tháp không dám lộng ngôn xưng hô mạo muội
chỉ dám mê nhìn thấp thoáng bóng  Linga
 trong vô tận thời gian
 những điệu kèn phương nam  thăm thẳm âm ba
 đôi mắt cội  nhiệm màu  gốc tháp

  Bấy lâu uống rươụ thời gian mà không biết  nhắp
 lạc giữa sắc rêu những  kẽ gạch không hồ
 mơ màng nghe  giọt bụi rêu khô…
 ta  quay quắt  một mình nâng… một tháp

Một chén nữa thôi rót  yêu  tràn tan , hợp
ném buồn đau rách rưới phía chân mày
tháp không già thì ta cứ trẻ hây
 cái thuở  ranh hoang cứ lăm le đòi trèo lên đỉnh tháp

Rượu có chát , rót Thu Bồn ra , dốc tiếp.
                                               

Pictures 01-08

img_0258.jpg

Pictures 01-08

img_0259.jpg

Pictures 01-08

img_0255.jpg

Bạn văn

Văn nghệ sĩ Quảng Nam tại buổi tọa đàm “Thơ Quảng Nam 10 năm (1997 – 2007)”.
 
Viết văn vốn là công việc lặng lẽ nên rất cần  sự chia sẻ. Bạn văn là nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi nhà văn. Nghe rằng, sau ba mươi năm xa cách, Nguyễn Tuân của Vang bóng một thời từ Hà Nội vào gặp Yến Lan, ông già của Bến My Lăng và câu chuyện văn chương khiến cả hai không thể dứt ra được. Đã không có một sự gián đoạn, như là giữa họ không hề có cuộc chiến tranh dai dẳng và khốc liệt mà đất nước vừa trải qua…

Đối với cánh viết văn làm thơ tỉnh lẻ chúng tôi thì cái nhu cầu ấy càng thêm bức thiết. Nhớ một lần vào cuối những năm 80 thế kỷ trước, anh Hoàng Minh Nhân, Phùng Tấn Đông và tôi làm một cuộc đi thực tế nho nhỏ về Điện Quang. Ở lại đấy ba ngày để cùng tìm hiểu cuộc sống ở một nơi chốn rất nên đến: đất học, đất của danh nhân và của những người anh hùng trong kháng chiến chống ngoại xâm. Hoàng Minh Nhân và Phùng Tấn Đông làm một đêm thơ mini giữa cơn mưa nghịch đầu hạ khá xôm trò. Và, lần đầu tôi cảm nhận được nhu cầu giao tiếp giữa người viết và bạn đọc. Hóa ra công chúng yêu văn học vẫn là số đông chứ không buồn tẻ như mình thường nghĩ. Chúng tôi lang thang khắp Gò Nổi, từ Cầu Đen ngược lên tận bến Vân Ly. Viếng thăm mộ các cụ Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ… Và nghĩ nhiều về các cụ. Thời các cụ, muốn thăm viếng nhau đâu có dễ dàng gì. Nhà khá giả còn có thể dong ngựa mà đi chứ cơ hàn thì chỉ còn cách cuốc bộ thôi. Mà các cụ thì ai chẳng cơ hàn. Ấy vậy mà các cụ vẫn cứ đến được với nhau. Mới có thể để lại những cuộc bàn luận văn chương, thế sự, mới có được những bài xướng họa tài tình để chúng ta thưởng thức… Tôi cam đoan chắc rằng những cuộc viếng thăm ấy đã thúc đẩy tài hoa ở các cụ thăng hoa bởi nếu không thì chính cuộc sống buồn tẻ sẽ làm tài năng ở các cụ thui chột mất.
 
Văn nghệ sĩ Quảng Nam giao lưu với các đồng nghiệp TP.Hồ Chí Minh.
 
Tôi học được khá sớm điều ấy trước khi tập tò viết lách. Không biết có nhận ra kịp như tôi không mà thỉnh thoảng Phan Văn Minh lại tạt vào nhà tôi, rủ nhau đi bù khú, chắc là để nuôi dưỡng cái nhu cầu sáng tác vốn rất phập phù ở mỗi đứa. Có dạo thấy tôi “im hơi lặng tiếng”, Phan Văn Minh lại đến tận nhà và… la. Viết dở cũng tới, không còn la nữa mà chê thẳng thừng. Nguyễn Trung Bình, sau “Bài của trẻ dáng nâu” nhiều người biết tiếng, từ Thành phố Hồ Chí Minh về lần nào cũng “hú” tôi, Phan Văn Minh, Phùng Tấn Đông và vài bạn máu me văn chương tụ lại một nơi nào đó để… nói toàn những chuyện trên trời dưới dất. Chỉ vậy thôi nhưng đêm về, có khi ngay trên đường về mỗi thằng đều cứ thấy ám ảnh.  Mình phải viết cái gì đó chứ, phải viết hay hơn chứ (?!). Chính cái kiểu “khủng bố êm dịu” này khiến chúng tôi không thể cho phép mình dễ dãi trong sáng tác.

Cái được nhất của anh em viết văn làm thơ Quảng Nam là rất quý trọng nhau. Mỗi khi có ai in được cái gì hay thì lại thấy mừng lây, sang lây. Và thường mang ra khoe… giùm bạn. Như “Thơ của gã nhà quê”, “Riêng với Thu Bồn…” của Phùng Tấn Đông; “Hội làng”, “Cả nhà thương nhau”… của Phan Văn Minh hoặc “Cỏ Mỹ Sơn”, “Bài của trẻ dáng nâu”… của Nguyễn Trung Bình; vài cái truyện của tôi, một số sáng tác của anh em trong tỉnh… Dạo ấy, điện thoại chưa được dùng nhiều nên chỉ còn cách gặp mặt nhau. Hoặc từ một cuộc này để bàn về những tác phẩm của người vắng mặt. Thời cuối những năm 80 – đầu những năm 90 thế kỷ XX dường như chúng tôi viết sung sức hơn thì phải. Hình như sau này chúng tôi viết kỹ thuật hơn, có chú ý cách tân hơn nhưng có lẽ cảm xúc không còn được thăng hoa như trước. Chừng như kỹ thuật viết đã lấy mất hồn của cảm xúc(!). Sau này có thêm Nguyễn Hàn Chung và một số anh em khác. Chung viết khởi sắc và đôi lúc như “bà nhập”. In xong tập thơ “Tìm tôi trong bóng”, Nguyễn Hàn Chung hớn hở chạy xe từ Điện An về tận Phú Trang khoe với tôi. Tôi nhớ buổi chiều ấy trời mưa tầm tã. Hai chúng tôi lặng lẽ bên nhau nơi một quán vắng. Và “hai ông cụ” cứ rù rì rủ rỉ. Tôi không rành mấy về thơ nhưng ít nhiều cũng thủng ra đôi điều Chung nói. Hèn chi Chung viết ngày càng bốc. Cảm xúc lớn nhất của tôi trong buổi chiều mưa tầm tã ấy: mừng cho bạn, dự cảm rằng bạn sẽ còn tiến rất xa trong thơ ca. Buổi ấy, cả hai giành nhau trả tiền và bỗng phì cười bởi chỉ uống hết có… một  chai Larger! Ba tiếng đồng hồ, hai người hết một chai bia có lẽ là kỷ lục cần phải đưa vào Guinness?

Sau này, Phan Văn Minh chuyển về thị xã dạy, Nguyễn Trung Bình cũng bặt tăm, Phùng Tấn Đông thì mải mê với các lễ hội, Nguyễn Hàn Chung đi định cư ở Mỹ… Còn sót mỗi mình tôi ở lại quê loay hoay với đủ thứ chuyện. Cái không khí ấm áp của “bạn văn một thời” mất không tăm tích. Nhiều lúc nghĩ lại thấy tiếc vô cùng. Cũng may rằng bù vào đó tôi còn có thêm Tiêu Đình, Nguyễn Mậu Hùng Kiệt, Lê Trung Việt, Phan Chín… Rồi các bạn văn ở rải rác khắp nơi trong cả nước. Nổi tiếng cũng có mà… sắp nổi tiếng cũng có. Chủ yếu là gặp nhau… trên điện thoại. Nhưng, còn biết làm sao khi cuộc sống đã thay đổi, mỗi người phải gánh bao nhiêu nỗi lo toan…

Phần tôi, mỗi ngày lại tiếp tục chờ đón các sáng tác mới của bạn. Hay thì mừng cho bạn, còn dở thì… Thôi!

LÊ TRÂM